ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.VI: Hồi 109)

Hồi thứ một trăm lẻ chín

Vãn tuế hồi cố hương.
Anh hùng đại sát Đát.

Tuổi già về quê,
Anh hùng giết giặc

(Bài tán Vũ Uy vương, trong Trần tông ngọc phả, hệ Đế phái).

Trung lang tướng Địa Lô tâu:

– Hồi Thoát Hoan sang lần trước, ta bị mắc cái họa Trần Ích Tắc, Trần Quang Kiện, Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn. Nhân tâm xáo trộn. Ta bị bất ngờ ở mặt trận Hoan, Ái và ngay tại Thăng long, Tam lộ. Bây giờ nhân tâm trên dưới như một. Tuy nhiên theo tin tức Khu mật viện nhận được, lần này Thoát Hoan nghe lời Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi khi tung quân bình định, làng nào không hàng, chúng thẳng tay khủng bố: chúng sẽ chiếm bằng được, rồi người thì chúng tàn sát, nhà cửa đốt tuyệt, mồ mả đào lên.

Cao Mang tâu:

– Như vậy ta cần thông tri cho tất cả làng, xã, trang, động, bản biết, để họ quyết tâm chống giặc. Đó là kinh nghiệm thời Thành Cát Tư Hãn đánh Tây vực, đã không bình định được xứ Hồi cương, vì dân chúng sợ bị giết tuyệt. Họ chống giặc bằng tất cả sức lực sẵn có.

Chiêu Văn vương hỏi:

– Thuyền lương của chúng bị ta đánh bắt, chúng chưa biết. Ta có cần thả tù binh về, cho binh tướng của chúng mất tinh thần không?

Hưng Đạo vương phân tích:

– Chưa vội. Trái lại ta cần giữ bí mật. Thoát Hoan không thấy bọn Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn chở lương tới, ắt y sai Ô Mã Nhi đi đón. Vậy Yết Kiêu sai Ngạc binh phối trí dọc sông, trên biển. Thấy thuyền của chúng thì đục, dùng dân thuyền đánh chìm. Nếu chúng đi đông, không cần đánh lớn, mỗi khúc sông đục một hai chiến thuyền thôi. Ô Mã Nhi đón không thấy thuyền lương thì ra biển xục xạo. Chúng ra biển sẽ bị Nhân Huệ vương dùng thủy quân, dùng ngư thuyền, dùng Ngạc binh đánh. Như vậy thủy quân của chúng sẽ bị tiêu hao, mệt mỏi. Thoát Hoan chưa thấy lương thực của Trương Văn Hổ thì dùng quân tải lương từ Tư minh sang bằng đường bộ. Ta đón đường tiêu diệt các đoàn tải lương. Chúng phải dùng một lực lượng lớn hộ tống. Lương đường thủy không có, lương đường bộ cạn, ắt chúng chia quân đi cướp lương của dân. Chúng phải đem quân lặn lội đánh từng xã cướp lương. Xã của ta bây giờ hùng mạnh vô cùng: Nghĩa dũng quân tinh nhuệ, thiện chiến. Vũ khí đầy đủ. Chúng sẽ bị hao binh, tổn tướng mà không cướp được nhiều. Ta chờ cho thủy binh, bộ binh, kị binh của chúng mệt mỏi, ta mới thả đám tù binh của Trương Văn Hổ về với Thoát Hoan. Thoát Hoan thấy lương thực hết, kị, bộ, thủy mệt. Aét y nản lòng rút quân. Bấy giờ ta mới truy đuổi, phục binh dọc đường; thì chỉ một trận là quét chúng ra khỏi nước.

Hôm đó là ngày 23 tháng Chạp năm Đinh hợi (1287). Từ khi quân Nguyên nhập Việt, hằng ngày Đại tư, Câu đương sai các Nghĩa dũng quân mang loa đi khắp làng thông báo tin tức chiến sự cho dân chúng. Loa nhắc lời khuyên của Trùng hưng hoàng đế:

” Đón xuân, vui tết, thì cứ đón xuân vui tết. Nhưng không nên xa xỉ quá. Không thể, không nên quên rằng bất cứ lúc nào giặc cũng có thể đến. Phải sẵn sàng chiến đấu giữ làng. Cần cất dấu lương thực. Cất dấu không kịp lỡ khi giặc tới cướp thì đốt đi, hoặc ném xuống sông, xuống ao”.

Tại Thăng long, thị vệ, binh sĩ thuộc hiệu Hàm tử đi từng phường, từng xóm, từng nhà giúp dân chúng di tản khỏi thủ đô. Dân Thăng long từng chịu một cuộc di tản hai năm trước, nên họ có kinh nghiệm. Nhờ tài cai trị, nhờ tài giáo hóa dân của triều đình, nên trong cuộc di tản trước, không có nạn trộm cướp. Dân chúng rời Thăng long bằng đường bộ, đường sông. Sau hai ngày, Thăng long không còn bóng người, mà chỉ có các đoàn Nghĩa dũng binh, cùng binh sĩ hiệu Hàm tử đi lại tuần phòng.

Triều đình, hoàng cung đã rời Hoàng thành từ bốn ngày trước. Trong thành chỉ còn lại Khu mật viện vẫn hoạt động. Thượng hoàng, Trùng hưng hoàng đế, Khâm từ hoàng hậu tuy ở địa vị tối cao, nhưng các vị đều là đại tướng cầm quân, nên vẫn ở lại theo dõi diễn tiến các mặt trận.

Trung lang tướng Nguyễn Địa Lô, phó quản Khu mật viện thuyết trình:

– Tối 21 tháng Chạp, Thoát Hoan họp tướng sĩ, đã quyết định như sau: căn cứ Vạn kiếp đã củng cố xong. Đường từ Vân nam, Tư minh về đã khai thông, đóng nhiều đồn bảo vệ đường tiếp tế lương thảo. Vậy ngày 23 thì tiến quân đánh Thăng long. Nhưng chúng bị ta phục kích, hôm nay là ngày 25 tháng Chạp, mà chúng còn ở Gia lâm.

Thượng hoàng hỏi:

– Hưng Đạo vương quyết định sao? Hiện người ở đâu?

– Hiện vương đang ở Đông triều, điều động chuyển quân theo đường thượng đạo lên biên giới. Người trao mặt trận Thăng long cho Hoài Văn vương.

Hoài Văn vương tâu:

– Tuy chỉ dụ của Hưng Đạo vương là phải tránh mũi nhọn của giặc. Không giao chiến vội. Nhưng thần thi hành lệnh uyển chuyển một chút. Cần làm cho giặc mệt mỏi. Thần quyết định đánh hai trận, trước khi rút lui, mở cửa giặc vào Thăng long.(1) Được tin Thoát Hoan chia quân làm 2 đoàn. Đoàn chủ lực chính do A Bát Xích chỉ huy bộ, kị binh, tiến từ Vạn kiếp về Thăng long, dọc sông Đuống. Phàn Tiếp đem thủy binh hộ tống.Thoát Hoan đi theo cánh này. Cánh thứ nhì do Ô Mã Nhi đem thủy bộ đi sau.(2). Thần đã lệnh cho Minh tự (3) Nguyễn Thức, hiện lĩnh đồng Tuyên vũ sứ Kinh bắc đánh trận thứ nhất. Trung lang tướng Địa Lô đánh trận thứ nhì.

– Kết quả ra sao?

– Nguyễn Thức là người đọc sách, lĩnh chức văn, nhưng rất giỏi dùng binh. Khi nhận lệnh thần hỏi ông cần bao nhiêu quân. Ông quả quyết:

” Nếu đánh lấy thắng thì thần cần ít ra 5, 6 hiệu binh, 2,3 hạm đội. Đây chỉ cần cho giặc mệt mỏi thì thần chỉ dùng Nghĩa dũng binh cũng đủ. Từ Vạn kiếp muốn vào sông Hồng phải qua sông Đuống. Mùa này nước sông xuống thấp. Thần sẽ điều động dân chúng lấp cửa sông Đuống thông với sông Hồng. Thủy quân giặc tới đây thì ùn lại. Bộ binh, kị binh cũng phải ùn lại theo. Thần dùng Ngạc binh đục thuyền của chúng. Thuyền đắm. Thần dùng thuyền nhỏ của ngư dân chặn bắt giết giặc. Khi đại quân của Ô Mã Nhi tới thì thần cho ngư thuyền chạy vào các lạch, sách”.

– Khi ra lệnh, thần hỏi : tiên sinh cần bao nhiêu Ngạc binh. Thức đáp:

” Một đô đủ rồi. Với 80 Ngạc binh, ít ra thần cũng đánh chìm được 20 thuyền của chúng. Thuyền chìm chúng không thể bỏ lại, mà tập trung thợ vá đáy, tát nước. Như vậy ít ra một ngày chúng mới tiếp tục tiến quân được”.

– Kết quả trận đánh ra sao?

“Đại quân Thoát Hoan, A Bát Xích tiến dọc theo bờ bên trái của sông Đuống. Dưới sông thủy quân của Phàn Tiếp đi song song hộ tống. Trong đêm 22, Nguyễn Thức ra lệnh cho dân, quân, dùng túi đựng đất lấp cửa sông Đuống. Vì mùa này nước sông cạn, nên việc lấp cửa sông không tốn nhiều sức. Lấp sông xong, Nguyễn Thức cho ngư thuyền, Nghĩa dũng quân phục trong các lạch, sông nhỏ. Thủy quân Phàn Tiếp toàn thuyền lớn, nước sông cạn, nên phải nối đuôi theo hàng một. Tới cửa sông Hồng, thì nước cạn, sông bị lấp thuyền không đi được. Nguyễn Thức cho Nghĩa dũng quân dùng ngư thuyền từ các lạch đánh trống tiến ra đánh. Thuyền giặc lớn, chuyển động khó khăn, trong khi ngư thuyền nhỏ, di chuyển nhẹ nhàng. Đánh nhau tới giờ Ngọ, thì Ngạc binh đã đánh đắm 20 chiến thuyền. Quân bộ, kị bên bờ trái muốn tham chiến với thủy quân thì từ bờ tới chiến thuyền cách đến 20 trượng là bùn lầy. Thành ra vô dụng. Cho đến chiều thì bộ, kị binh đẵn chuối làm bè chèo ra sông tiếp viện cho thủy quân. Nhưng ngư thuyền đã rút vào các lạch, sách hết. Cánh quân của Thoát Hoan, A Bát Xích phải qua đêm bên bờ sông Đuống, trên những bãi đất hoang. Suốt đêm Địa Lô cho quân thúc trống reo hò. Quân Nguyên không ngủ được. Sáng ngày 24, quân của Ô Mã Nhi tới, khai thông cửa sông. Suốt ngày hôm đó thủy quân giặc cố hết sức vá lại đáy thuyền, tát nước ra; khai thông cửa sông rồi tiến ra sông Hồng”.(5)

Long tâm vui mừng, thượng hoàng hỏi:

– Còn trận phục kích Gia lâm?

Hoài Văn vương tâu:

– Khi ra lệnh cho chú Đia Lô, thần hỏi:

” Chú thống lĩnh hiệu Thần cách, cháu thống lĩnh hiệu Hàm tử trấn Thăng long. Hai hiệu được coi là thần võ. Mình cũng nên cho một trong hai hiệu xuất trận. Chứ để dân quân, hoàng nam xuất trận thì còn gì là uy vũ nữa?”

Địa Lô cười:

– Thần sẽ dùng hiệu Thần cách phục ở Gia lâm đánh một trận rồi rút lui.

Suốt ngày 23, quân Nguyên phải đánh với Nghĩa dũng quân, trong địa thế khó khăn, không xuất hết sức mạnh. Đêm bị quấy rối. Sáng 24 chúng tiến quân trong cái bực tức, mệt mỏi. Khi đoàn thuyền vào sông Hồng thì lại 21 chiến thuyền bị Ngạc binh đánh đắm. Lần này đáy thuyền bị thủng những lỗ lớn, không vá được. Chúng đành bỏ lại. Còn kị binh khi qua khu đồng lầy thì bị trúng phục binh. Kị binh cố hết sức phản công. Quân Việt bỏ chạy vào các thôn xóm. Kị binh đuổi theo, thì gặp Ngưu binh. Cuộc chiến dai dẳng suốt ngày. Đêm 24 chúng lại bị quấy rối, không ngủ được. Chúng đóng binh lại, chuẩn bị bắc cầu nổi qua sông.(6)

Vương tâu tiếp:

– Nội ngày mai chúng sẽ vào Thăng long. Xin thượng hoàng di giá ra khỏi thành.

Vừa lúc đó tin Tế tác báo. Hoài Văn vương tâu lên hai vua:

” Khi Thoát Hoan đem toàn quân nhập Việt, thì y để lại 5 nghìn kị binh thiết đột võ vệ tinh nhuệ nhất đóng tại hậu cứ Tư minh. Bọn hàng tướng Việt cũng chờ ở đây. Trần Ích Tắc hẹn với bọn chân tay còn ở trong nước rằng khi thấy Thoát Hoan tiến về Thăng long thì cũng là lúc y đem bọn Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn cùng bọn hàng tướng nhập Việt, để tổ chức triều đình, để đem quân vây bắt hai vua.

Cánh quân này do Tĩnh đô sự hầu Đô Mi Ni (4) vạn hộ Tôn Đạt, thiên hộ Chu Tiêu chỉ huy. Phía bọn An nam gian có Lê Tắc với cha con Nguyễn Chiến Thắng, Nguyễn Bá Linh; Thiêm sự Nguyễn Lĩnh, Phủ phán Lê Án, con trai Ích Tắc là Quốc Đạt. Bọn này tiến theo đường Thoát Hoan và Áo Lỗ Xích đã tiến quân”. (5)

Vương hỏi:

– Xin thượng hoàng quyết định.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Nguyễn Bá Linh là người thế nào?

– Tâu, y chính là Nguyễn Linh Nhan, lần này y đổi tên thành Nguyễn Bá Linh.

Thượng hoàng ban chỉ:

– Lệnh cho phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên; Thiên tượng đại tướng quân Dã Tượng, công chúa Thúy Hồng, Trấn biên tướng quân Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh:

” Không chặn đánh bọn Thiết đột này vội. Vì chặn đánh chúng sẽ chạy trở về đất Nguyên. Để chúng vượt qua Chi lăng rồi hãy đánh. Cần đánh ngày, đánh đêm, không cho chúng nghỉ. Tiêu diệt trọn vẹn cho bọn khác khiếp sợ “.

Khâm Từ hoàng hậu tỏ vẻ lo nghĩ:

– Tâu phụ hoàng, theo như con biết thì Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu là những võ tướng vô địch với 5 nghìn Thiết đột, mà mỗi thiết đột đều là đại cao thủ các vùng Tây vực, Tây hạ, Cao ly, Trung nguyên. Lại thêm bọn Ích Tắc, Tú Hoãn, Văn Lộng, Lê Tắc. E Phò mã Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên, Dã Tượng, Thúy Hồng không phải là đối thủ của chúng.

Thượng hoàng còn dang suy nghĩ thì Quốc Toản tâu:

– Thời Anh Vũ Chiêu Thắng, Thái úy Lý Thường Kiệt không chú ý đến các cao thủ Tống, mà trận Đâu đỉnh tuy ta thắng, nhưng Trung Thành vương, Tín Nghĩa vương với vương phi Trinh Dung, Ngọc Nam bị hại. Bây giờ bọn này gồm 3 tên võ công vô địch lại thêm chú Ích Tắc với Lộng, Hoãn, là 7 cao thủ thì tính mệnh Ngũ Lão, Thủy Tiên, Dã Tượng, Thúy Hồng bị đe dọa. Con xin Thượng hoàng cho con với bác Hưng Ninh âm thầm lên trợ chiến, giết bọn này.

Trùng Hưng hoàng đế trì nghi:

– Thỉnh sư phụ (TuệTrung bồ tát là sư phụ của nhà vua) thì dĩ nhiên người đi. Nhưng còn Quốc Toản. Con sợ Quốc Toản sẽ thẳng tay với chú Ích Tắc!!!

– Thôi được, Quốc Toản đi với Hưng Ninh vương thì diệt bọn này dễ dàng. Vậy Khâm Từ phải đi theo, kiểm soát Quốc Toản. Trong thời gian Toản vắng mặt, Chiêu Minh vương thay Toản tổng trấn Thăng long. Địa Lô thay Toản Quản Khu mật viện.

Trước khi đi, Hoài Văn vương ra lệnh điều Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh, hai vợ chồng Ngưu tướng Trần Long Nhất, Phạm Trang Tiên tới Chi lăng trước.

Một đoàn gồm Hưng Ninh vương, Hoài Văn vương, Khâm Từ hoàng hậu, Trần Đại Như Vân âm thầm vượt sông, băng rừng lên Bắc cương. Trưa ngày 26 tháng Chạp thì tới Chi lăng. Ra đón vương, ngoài Dã Thượng, Thúy Hồng còn có Trấn biên tướng quân Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh thống lĩnh hiệu binh Thiên thuộc, Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh, vợ chồng Ngưu tướng Trần Long Nhất, Phạm Trang Tiên.

Lễ nghi tất.

Vì Hưng Ninh vương là sư phụ của Dã Tượng, tuy vương chưa thọ giới, song đắc quả bồ tát, nên tính tình đầm ấm, ngọt ngào; gặp lại sư phụ, Dã Tượng mừng chi siết kể. Hầu báo cáo tình hình:

– Cách đây mấy ngày Hưng Đạo vương, Chiêu Văn vương có lên đây duyệt xét lại kế hoạch phục binh. Vì thời gian phản công sắp tới. Kế hoạch này Quốc Toản biết chưa?

– Khi em lên đường thì Hưng Đạo vương chưa về, nên em chưa được thông báo.

Thúy Hồng chỉ lên tấm vải vẽ tình hình đồn trú của Nguyên, của Việt rồi nói:

– Hưng Đạo vương ban chỉ:

1.Bọn Thoát Hoan đang lâm vào cảnh cùng đường.Y phải dùng tất cả những gì có để thoát chết. Lương thực bằng đường biển đã bị ta đoạt hết. Mặt biển bị Nhân Huệ vương với các hạm đội khóa chặt, không thể tiếp tế được. Lương thảo chỉ trông vào đường bộ. Mà đường bộ thì trên đất Trung nguyên bị Trung nghĩa vương Ngột A Đa thống lĩnh Cần vương Tống đánh cắt. May mắn có đoàn nào thoát được thì khi vào Bắc cương bị phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên chặn đánh. Thảng hoặc thoát được thì qua Chi lăng Dã Tượng với chị cũng diệt nốt. Cuối cùng chúng phải đi cướp của dân. Mà dân ta hiện dư thừa vũ khí giữ làng, dễ gì cướp được?

2. Khi tiến quân vào đất Việt. Thoát Hoan không tin đám Ích Tắc, nên để chúng ở lại hậu cứ Tư minh với 5 nghìn Thiết đột. Đợi khi y chiếm được Thăng long, thì cho đám này nhập Việt, để tổ chức hệ thống cai trị. Nghe đâu đám này đang chuẩn bị vượt biên. Bọn Tế tác của Thoát Hoan bị chị bắt được, lục trong người chúng, lấy được thư: Thoát Hoan cần đám Ích Tắc về Thăng long, trên danh nghĩa An Nam quốc vương, ra lệnh cho các Đại tư, Câu đương cung ứng lương thảo cho quân Nguyên. Vương ra lệnh cho phò mã Phạm Ngũ Lão với anh Dã Tượng bằng mọi giá đánh chặn không cho cánh quân này về Kiếp bạc.

3. Chỉ trong vòng hai tháng nữa, bị tuyệt lương, bị thấp nhiệt, bị muỗi, binh tướng mệt mỏi ắt Thoát Hoan rút binh. Nếu rút, chúng sẽ rút bằng đường thủy và đường bộ. Về đường bộ, hồi năm trước chúng rút binh thì chỉ có mấy lộ chính. Bây giờ nhờ bọn Ích Tắc, y biết tất cả những con đường nhỏ, những ngả băng núi, vượt suối qua biên giới. Vì vậy phải phục binh tất cả các ngả, không bỏ sót một ngả nào.

Quốc Toản trình bầy:

– Nghe tin bọn Ích Tắc được đám Đô Mi Ni hộ tống vào đất Việt. Trong bọn này có ba tên võ công cực cao. Thượng hoàng cử Hưng Ninh vương với em lên chỉ huy trận đánh này.

Cuộc thảo luận chưa kết thúc thì thân binh báo:

– Phò mã Phạm Ngũ Lão cùng một phái đoàn xin cầu kiến.

Dã Tượng, Thúy Hồng vội đứng lên ra ngoài đón khách. Phạm Ngũ Lão thấy trong trướng có Hưng Ninh vương, Khâm Từ hoàng hậu với Quốc Toản thì biết có truyện trọng đại. Phò mã nói:

– Tôi được tin bọn Đi Mi Ni hộ tống đám Trần Ích Tắc vượt biên vào Thăng long. Lệnh của Hưng Đạo vương bắt chúng ta phải diệt bọn này. Thống lĩnh mặt trận từ Bắc cương tới Kiếp bạc do Hưng Nhượng vương. Vương vừa gửi lệnh nói rằng trận này do Quốc Toản chỉ huy. Tôi đến đây bàn với Dã Tượng để nhận lệnh của Quốc Toản.

Dã Tượng chỉ vào Hưng Ninh vương, Quốc Toản:

– Vì đây là trận chiến sinh tử , mà lực lương chúng ta hơi phức tạp, nên Thượng hoàng ủy cho sư phụ với Quốc Toản phụ trách mặt trận này.

Hưng Ninh vương cười:

– Điều quân, phục binh là Quốc Toản, còn bác lên đây chỉ với mục đích đối phó với bọn Đô Mi Ni, Ích Tắc mà thôi.

Thân vương báo:

– Có một đoàn 25 người ngựa xin cầu kiến.

– Họ có báo danh không?

– Một người nam trao thanh kiếm này nói: người thưa với Thiên tượng đại tướng quân rằng chủ thanh kiếm này xin cầu kiến.

Quốc Toản tiếp kiến, liếc nhìn qua chữ khắc trên chuôi “Đông a, Trần Nhật Duy”, biết là Vũ Uy vương, chân tay vương muốn bủn rủn. Vương nói với Hưng Ninh vương:

– Thưa bác, là bố cháu.

Đoàn của Vũ Uy vương tới 25 người.

Lễ nghi tất.

Dã Tượng mời tất cả vào phòng hội quân.

Trần Đại Như Vân biết tất cả mọi người. Công chúa giới thiệu: phía khách mới tới gồm Vũ Uy vương, vương phi; Thúy Trang, hoàng hậu Nãi man; Trần Mạnh Quốc Tổng lĩnh Ngự lâm quân Nãi man với phu nhân là Lý Ngọc Đức; Vũ Cao San Tổng lĩnh Thị vệ Nãi Man và phu nhân là Lê Ngọc Thiên; Kim Đại Hòa, A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh là ba vạn phu trưởng Nãi man, và ba phu nhân Ngọc Hạ, Ngọc Tiên, Ngọc Trị.

Thúy Trang nói:

– Được tin Hốt Tất Liệt dốc quân nghiêng nước sang đánh Đại việt báo thù. Vũ Uy vương dâng biểu can ngăn: đánh chưa chắc đã thắng. Mà thắng thì hao binh, tổn tướng, công khố trống rỗng, làm khổ dân chúng; rút cục chỉ được một nước nhỏ, nghèo nàn. Còn như bại thì mất hết uy tín. Hốt Tất Liệt đem ý kiến triều nghị.

Thúy Trang ngừng lại, uống hớp nước trà rồi tiếp:

– Quần thần đưa ý kiến: Vũ Uy vương là người Việt, làm quan với Nguyên lên đến cực phẩm, vậy Nguyên cử vương thay Áo Lỗ Xích, cầm quân đánh Đại việt. Trần Ích Tắc cực lực can rằng, nếu để vương cầm quân, lỡ vương suất lĩnh dân Hán vùng Kinh hồ phục hồi Tống triều thì nguy. Còn như để vương cầm đại quân miền Tây càng nguy hơn. Tỷ như lúc triều đình dốc quân nghiêng nước sang đánh An Nam, mà vương khởi binh từ miền Tây kéo về thì nguy vô cùng. Hốt Tất Liệt ban chỉ triệu hồi vương về Đại đô, định trao cho vương chức tước lớn, nhưng không có quyền hành gì. Vương trao ấn trấn Tây cho hoàng tử thứ 14 của Hốt Tất Liệt đang làm giám quân vùng này, rồi dâng biểu xin nghỉ hưu. Khi vương đi qua Nãi man, vương gặp Đại hãn Hoài Đô để từ biệt. Đại hãn cho tôi theo vương về thăm quê hương. Nhân đó phu nhân 5 tướng Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, Kim Đại Hòa, A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh xin tháp tùng tôi về thăm quê. Chúng tôi hợp thành một đoàn về đây.

Thúy Trang nói mặc Thúy Trang nói, Hoài Văn vương ngồi bên cạnh mẹ, tay nắm tay mẹ, như sợ mẹ đi mất. Sau khi Thúy Trang trình bầy xong. Phò mã Phạm Ngũ Lão tường trình tình hình Đại việt từ khi bọn Áo Lỗ Xích, Thoát Hoan nhập Việt. Vũ Uy vương chỉ Quốc Toản:

– Thượng hoàng chỉ định con đánh trận này. Vậy con hãy thi hành lệnh của người đi.

Quốc Toản ngồi vào vị trí chúa tướng. Vương ra lệnh cho Phạm Ngũ Lão, Dã Tượng:

– Bọn Đô Mi Ni gồm 5 nghìn Thiết đột. Chúng sẽ vượt biên sáng sớm ngày 28 tháng chạp. Tất cả là kị binh. Các thiết đột đều là những võ sĩ, võ công cao. Tuy binh tướng hai hiệu binh Văn bắc, Hữu thánh dực thiện chiến, nhưng đem đối đầu với bọn chúng e tổn thất không ít. Vậy khi chúng vượt biên vào, thì phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên phục binh đợi cho tiền quân chúng đi qua, khi hậu quân tới thì đổ ra đánh cầm chừng, cướp mấy xe lương rồi bỏ chạy. Thế là chúng nghĩ mình hèn, chúng đã mở đường xong. Vì là kị binh, chúng sẽ tốc tới Chi lăng ngay. Anh Dã Tượng cũng làm như phò mã Phạm Ngũ Lão.

Vương hướng Hưng Ninh vương, Vũ Uy vương, vương phi:

– Con xin bác, bố, mẹ và các tướng Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, Kim Đại Hòa, A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh ẩn thân vào với binh Hữu thánh dực, Văn bắc phòng bọn Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu; nếu chúng không xuất hiện thì thôi. Còn như chúng xuất hiện thì xin các vị xuất thủ kiềm chế chúng. Con xin gửi ông Bạch Viên theo Bố. Bố phải cẩn thận, vì Bạch Viên từng bị bọn Tú Hoãn, Văn Lộng, Lê Tắc hành hạ. Nay gặp nhau trên chiến trường, Bạch Viên sẽ giết chúng, e Thượng hoàng không vui.

Vũ Uy vương thấy con trai điều binh, khiển tướng đúng phép, uyển chuyển, cẩn thận thì mừng vô hạn. Vương nói với Hưng Ninh vương:

– Bọn này võ công thực kinh nhân. Vậy anh với vợ chồng em phải bám sát chúng. Hễ chúng xuất trận thì ta giết ngay. Ta mà rời chúng thì e tướng tá của ta gặp nạn. Thế này: em sẽ đối phó với Đô Mi Ni. Anh đối phó với tên Tôn Đạt, vợ em đối phó với Chu Tiêu. Ích Tắc để cho Quốc Toản. Còn mấy cái của nợ Túù Hoãn, Văn Lộng, Trần Bá Ý, Lại Ích Khuy, Lê Tắc thì xin để cho các tướng Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, A Mít Lỗ Tề; Kim Đại Hòa, Đi Mi Trinh với Bạch Viên.

Quốc Toản ra lệnh cho Trấn biên tướng quân Nguyễn Thế Lộc, Nguyễn Lĩnh:

– Hai tướng quân suất lĩnh hiệu binh Thiên thuộc, trấn tại Nội bàng. Giữ vững ải, tuyệt đối không xuất ải đánh nhau. Nội bàng có 10 lớp rào, hào sâu. Trong khi bọn chúng là kị binh, không quen đánh đồn. Đánh ải không được, ắt chúng hạ trại qua đêm tại chân núi Kết.

Vương ra lệnh cho Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh:

– Bọn Đô Mi Ni khởi hành từ sáng sớm, trải qua hai cuộc chiến với hiệu binh Hữu thánh dực, Văn bắc, rồi đánh Nội bàng, người, ngựa mệt. Giờ dậu, Đại tướng quân đột nhập khu đóng quân gây náo loạn, rồi rút chạy.

Vương gọi hai Ngưu tướng Trần Long Nhất, và phu nhân Phạm Trang Tiên :

– Hai vị cho Ngưu binh ẩn ở phía nam núi Kết. Sau khi Đại đởm đại náo bọn Đô Mi Ni giờ dậu, thì sang giờ tý, hai vị xua Ngưu binh vượt từ chân núi xông vào trại giặc, chém giết náo loạn rồi rút ra khu lầy lội.

Vương nói với Dã Tượng :

– Đêm 28, Dã Tượng cho hiệu binh Văn bắc đào hố, đặt bẫy ngựa dọc con đường từ Chi lăng tới Nội bàng. Sáng ngày 29 tất chúng xua quân đánh Nội bàng tiếp. Qua một ngày mệt mỏi, một đêm không được ngủ. Lương hết, tiến không được, chúng sẽ rút về biên giới. Bấy giờ Dã Tượng mở đường cho chúng đi qua. Đường đi ngựa bị bẫy. Chúng rời khỏi Chi lăng, thì phía trước Phạm Ngũ Lão tung hiệu Hữu Thánh dực chặn đầu. Dã Tượng tung quân đánh bịt hậu.

Vương tiếp :

– Bị chặn trước, đánh sau, bọn Ích Tắc, Tú Hoãn, Văn Lộng, Lê Tắc sẽ bỏ ngựa đi theo con đường rừng để chạy. Bấy giờ ta dùng Ngưu binh đuổi theo. Cháu sẽ nhờ ông Bạch Viên băng rừng đập chúng.

Tại Thăng long, chiều ngày 28 tháng Chạp, Thượng hoàng, Trùng hưng hoàng đế vẫn hiện diện tại Khu mật viện. Ưng binh trình biểu tâu về tình hình mặt trận Bắc cương. Ngài nói với Chiêu Minh vương :

– Chú Quang Khải ơi ! Có tin mừng ! Mừng lắm !

– Tin gì vậy ?

– Anh chị Vũ Uy, dẫn theo 5 đại tướng của Mông cổ về tham chiến. Anh chị đã cùng anh Hưng Ninh, cháu Hoài Văn, thiết kế đánh bọn Đô Mi Ni.

Chiêu Minh vương cầm biểu đọc :

” Sáng nay, giờ thìn, đoàn Thiết đột của Đô Mi Ni vượt biên, tiền quân đi qua Đại trợ, không gặp sức kháng cự. Chúng thẳng đường tới Chi lăng. Khi hậu quân tới Đại trợ thì phục binh của hiệu Hữu Thánh dực đổ ra đánh. Tôn Đạt, Chu Tiêu chỉ đánh 5 chiêu, phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên lạc bại. May ông Bạch Viên xuất hiện, vác gậy đập chúng, mới cứu thoát phò mã, công chúa. Tú Hoãn chặn đầu định giết Phạm Ngũ Lão thì bị Trần Quốc Toản xuất chiêu. Chỉ một chiêu, Tú Hoãn bị đánh bay xuống ngựa, phun máu miệng. May Khâm Từ hoàng hậu can, bằng không Như Vân đã giết y. Y lên ngựa bỏ chạy. Hậu binh giặc có 40 xe lương bị, bắt hết 20.

Tiền quân của Đô Mi Ni tới Chi lăng, thì trúng phục binh của quân Việt. Nhưng quân Việt đánh trống, reo hò, bắn mấy loạt tên rồi rút chạy. Khi chúng đi qua, thì hiệu binh Văn bắc xuất hiện đánh vào hậu quân chúng. Tôn Đạt đấu với Dã Tượng, Chu Tiêu đấu với Thúy Hồng. Trận chiến kéo dài trên trăm chiêu bất phân thắng bại.

Bọn An Nam gian cùng hò nhau tham chiến. Lê Tắc xung vào giúp Chu Tiêu thì bị Quốc Toản chặn đánh, chỉ một chiêu, y bay tung xuống ngựa. Trần Ích Tắc xung vào cứu y. Quốc Toản rút kiếm Trấn bắc đánh Ích Tắc, kiếm của y bị thanh Trấn bắc đánh gẫy. Y phi ngựa bỏ chạy. Lại Ích Khuy bị Vũ Cao San bắt được trao cho Như Vân giữ. Y cọ tay vào tảng đá, dây trói đứt, y tung mình chạy, bị Như Vân bắn theo một mũi tên,y chết gục trên mình ngựa. Trần Bá Ý bị A Mí Lỗ Tề đánh bay xuống ngựa, may Khâm Từ hoàng hậu ban chỉ phóng thích, bằng không y đã bị giết.

Bọn Đô Mi Ni tới Nội bàng thì đường đi băng qua ải bị chặn. Y cho quân đánh ải. Cuộc chiến đang dằng co “.

Sáng ngày 29 tháng Chạp, Tế tác báo về Khu mật viện:

” Đêm qua, bọn Đô Mi Ni phải qua đêm ở chân núi Kết. Đêm, bị Đại đởm đột nhập giết ngựa, đốt trại suốt từ giờ dậu tới giờ hợi. Đại đởm vừa rút vào chân núi thì Trần Ích Tắc dẫn bọn An Nam gian đuổi theo. Chúng vây đánh đội Đại đởm. Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh bị Trần Ich Tắc giết chết. Cả 13 tráng sĩ Đại đởm đều hy sinh.

Giờ tý, hai Ngưu tướng Trần Long Nhất, và phu nhân Phạm Trang Tiên xua Ngưu binh tấn công vào trại. Sau khi chém giết thì rút quân. Bọn Trần Ich Tắc đuổi theo, chúng giết chết Trần Long Nhất và 12 ngưu binh. Sáng nay bọn Đô Mi Ni đem đầu các Đại đởm và ngưu binh bêu trước chiến lũy Nội bàng, chiêu hàng”.

Trước tin Nguyễn Thiên Sanh, Trần Long Nhất tử trận, hai vua ôm đầu đau xót. Thượng hoàng than:

– Hỡi ơi! Đại đởm đại tướng quân anh hùng cái thế, vào sinh ra tử biết bao nhiêu trận, không ngờ lại chết về tay bọn gian thần, tặc tử.

Tin Tế tác báo :

” Cánh quân Vân nam của A Lỗ (A Ruc) đã tới Gia lâm, hợp với quân Thoát Hoan. Thoát Hoan cực kỳ cao hứng. Y sai quân chuẩn bị vượt sông Hồng vào Thăng long “.

Thượng hoàng muốn dò xem : Thoát Hoan đã biết thuyền lương của Trương Văn Hổ bị phá hay chưa ? Y đã biết gì về trận đánh ở Đại trợ, Chi lăng, Nội bàng chưa ? Người hỏi quần thần :

– Có ai dám đi sứ sang Gia lâm, giả yết kiến Thoát Hoan, xin đàm phán, rồi dò quân tình không ?

Chiêu Hòa ương Quốc Uất, tình nguyện xin đi. Địa Lô gặp riêng vương dặn dò chi tiết những gì phải nói, những gì phải làm. Lô trao cho vương một cái hộp gỗ. Vương một người, một ngựa vượt sông Hồng sang Gia lâm. Một bách phu kị binh tuần hành chặn vương lại. Viên bách phu hỏi:

– Người là ai? Đi đâu?

– Tôi là Chiêu Hòa vương của Đại việt. Tôi đi sứ, xin được yết kiến Trấn Nam vương.

Viên bách phu dẫn vương tới trại Nguyên. Thoát Hoan truyền lệnh cho vào.

Lễ nghi tất.

Thoát Hoan hỏi bằng tiếng Hoa vùng Đại đô:

– Người có phải là em của Nhật Huyên không? Người định làm thuyết khách ư? Người muốn nói gì thì nói đi! Nếu nói không thông thì đừng chê gươm ta không sắc.

Chiêu Hòa vương ung dung đáp bằng tiếng Mông cổ vùng Hoa lâm:

– Tôi tới đây với hai nhiệm vụ. Một là do huynh trưởng sai đến yết kiến Thái tử, để xin đàm phán. Hai là việc tư của Thái tử. Tôi vì thái tử mà đến, thái tử đã đe dọa tôi. Tôi cũng xin thưa: Dã Tượng, Quốc Toản đang chờ thái tử ở Chi lăng, chúng hứa ném thái tử một vạn cục đá đấy! Không biết cái ống đồng năm trước của thái tử đâu rồi?

Bị nói móc, Thoát Hoan định rút kiếm chém Chiêu Hòa vương. Nhưng Áo Lỗ Xích can:

– Hai bên đang giao tranh, không nên giết sứ giả.

Y hỏi Chiêu Hòa vương:

– Người nói tới đây để đàm phán? Đàm phán gì? Việc này ta sẽ trao cho Lý vấn quan là Sát Hãn đối thoại với người (6). Còn truyện tư của thái tử là gì? Sẽ bàn sau.

Thoát Hoan gọi một viên quan tới. Y giới thiệu:

– Đây là Sát Hãn, phụ trách Lý vấn. Người có thể đàm phán với y.

Nói rồi Thoát Hoan vẫy tay, ngỏ ý hai người ra ngoài nói truyện. Sát Hãn dẫn vương vào một căn lều. Vừa vào lều y đã nói:

– Anh người là Nhật Huyên không làm trọn đạo tôi con. Lần trước thiên triều đem quân đánh Chiêm. Thay vì đón tiếp, cung ứng lương bổng. Y đem quân chống trả, làm 50 vạn quân còn có 15 vạn. Lại hại chết Lý Hằng, Lý Quán, Toa Đô. Nên thánh thiên tử quyết phong cho em y là Trần Ich Tắc làm An Nam quốc vương. Như vậy Nhật Huyên là gian thần tặc tử. Thiên triều không đàm phán với bọn gian thần, tăc tử!

Chiêu Hòa vương hỏi:

– Thượng hoàng là anh tôi, Ích Tắc cũng là anh tôi. Xin cho tôi được tương kiến với anh Ích Tắc, để tôi có thể theo anh, kiếm chút công danh với Thiên triều.

Mặt Sát Hãn tươi hồng, y nghĩ:

– Thì ta đây là tên An Nam gian như Ích Tắc.

Y vui vẻ:

– An Nam quốc vương đang trên đường từ Lạng châu về đây. Người hãy về Thăng long chờ, chỉ mấy ngày nữa vương sẽ tới.

Chiêu Hòa vương cười thầm:

– Con bà mi! Thế là mi tiết lộ Thoát Hoan chưa biết vụ Đô Mi Ni bị chặn đánh ở Nội bàng.

Vương dò dẫm:

– Tôi nghĩ Trấn Nam vương phải đưa anh Ích Tắc về Thăng long càng mau càng tốt. Anh tôi, với tôi sẽ ban chỉ cho các Đại tư, Câu đương nộp lương dâng Thái tử. Chứ đường tải lương từ Kinh hồ đến đây xa diệu vợi, e nhọc sức quan quân!

– Chúng ta không cần lương ấy. Thiên triều đã cử Trương Văn Hổ lĩnh Giao chỉ Hải thuyền vạn hộ chở 17 vạn hộc lương bằng đường thủy. Lương cũng sắp tới.

Chiêu Hòa vương cười thầm:

– Thì ra bọn mi chưa biết thuyền lương bị đánh. Trương Văn Hổ bỏ chạy.

Vương đứng dậy xá:

– Tôi về Thăng long. Tôi chờ anh Ích Tác của tôi, để anh em cùng quy phục Thiên triều.

Sát Hãn vào soái lều một lúc, rồi trở ra đón Chiêu Hòa vương. Vương nghĩ thầm: chắc Sát Hãn nói với Thoát Hoan rằng ta theo Ich Tắc, nên y đổi thái độ đây.

Vào trong soái lều, Thoát Hoan hỏi:

– Nhật Huyên hiện ở đâu?

– Anh ấy với con bỏ chạy từ lâu rồi. Thăng long bỏ trống. Xin Thái tử cứ tiến quân vào. Chúng tôi sẽ bầy hương án đón Thái tử.

Vương đưa ra cái hộp bằng gỗ:

– Khi tôi đi sứ, vương phi Ngọc Trí gửi tôi cái hộp này, ban chỉ rằng phải trao tận tay Trấn Nam vương gia!

Thoát Hoan kinh ngạc hỏi:

– Có thực là vợ ta không? Ta được báo rằng sứ của phụ hoàng tới Đàm châu triệu hồi nàng về kinh. Khi đi đường thuyền bị bão chìm. Có đâu nàng còn sống?

Đường Ngột Đải ngồi cạnh Thoát Hoan, y hỏi:

– Phu nhân của ta ôm 2 con trốn cùng vương phi Ngọc Trí. Vậy nàng có về Đại việt không?

– Phu nhân có về. Hiện người đang sống ở Nghi tàm, ngoài thành Thăng long. Ngày ngày tưởng nhớ trượng phu, ôm con mà khóc. Phu nhân nghe Tả thừa sang, thì mừng chi siết kể.

Thoát Hoan mở hộp. Bất giác y ngẩn người, tim đập loạn xạ, vì trong hộp có cái váy, cái áo Ngọc Trí mặc hồi Thoát Hoan rút chạy.Chính y đã chui đầu vào cái váy này lánh nạn. Trong còn một bức thư. Y mở ra đọc:

” Vương gia,

Từ khi bị bọn bội cha, phản anh Trần Ich Tắc, Trần Tú Hoãn,Trần Văn Lộng bịa đặt tố cáo thiếp với các chị Ngoc Kỳ, Ngọc Cách, Ngọc Quốc làm gian tế cho An Nam. Bị làm nhục chị Ngọc Kỳ đã tìm cái chết để tự minh oan.

Khi sứ của phụ hoàng tới tuyên triệu thiếp về Đại đô. Biết rằng về sẽ bị làm nhục, thiếp đành ôm con, vượt biển về Đại việt lánh nạn. Thiếp không có can đảm tự tử như chị Ngọc Kỳ, vì thiếp chết rồi, hai dứa con sẽ bơ vơ. Từ khi rời Đàm châu, hai đứa trẻ khóc lóc ngày đêm vì nhớ cha nó.

Nhớ lại cuộc rút khỏi An Nam hai năm trước mà rùng mình. Nếu như Ngọc Cách, Ngọc Quốc với thiếp làm gian tế cho Đại việt, thì tại sao cả ba lại đứng ra trước muôn nghìn mũi tên, vạn gươm đao che chở cho vương gia, cho Lý Hằng, cho Đường Ngột Đải?

Thiếp với 2 con hiện sống rất an ninh. Mong rằng cuộc chiến Nguyên-Việt sớm kết thúc, để vương gia với thiếp, với các con sớm đoàn tụ. Thiếp đang ở Thụy khuê, ngoài thành Thăng long.

Trước khi ngừng bút thiếp xin nhắc vương gia phải tối đề phòng bọn An Nam gian. Nhất là tên Trần Ích Tắc, đến cha nó, anh nó, nó cũng phản. Đến em nó, cháu nó, nó cũng sát hại, thì vương gia tin nó được không?

Thiếp gửi theo cái váy, với cái áo thiếp đã mạc để cứu vương gia. Vương gia từng ẩn thân vào cái váy này mà thoát nạn.

Thiếp.
Lý Ngọc Trí.”

Thoát Hoan đưa cái váy áp lên mặt hít một hơi dài. Y buột miệng:

– Đúng là của nàng.

Y nói với Chiêu Hòa vương:

– Ngày mai ta sẽ tiến quân vào Thăng long. Người khải với vương phi rằng đừng sợ hãi. Hãy ở lại đón ta.

Chiêu Hòa vương giả bẽn lẽn:

– Anh Ích Tắc của tôi được phong An Nam quốc vương. Vậy Thiên triều cho tôi chức tước gì?

– Cô gia sẽ tâu về triều ban cho người tước vương, coi một giải Hoan, Ái châu.

Chiêu Hòa vương trở về Thăng long, đến Khu mật viện tâu chi tiết về cuộc đi sứ. Thượng hoàng mỉm cười:

– Chú Chiêu Hòa vậy mà giỏi.

Chiêu Minh vương tâu:

– Cứ lý mà suy, khi ta rút khỏi Thăng long, Thoát Hoan vào thành, thì việc đầu tiên y sẽ sai sứ đi đón công chúa Ngọc Trí với hai đứa con. Đường Ngột Đải cũng đến Nghi tàm đón Ngọc Quốc. Vậy ta phải làm gì?

Thượng hòang đưa mắt nhìn Địa Lô như hỏi ý kiến. Địa Lô tâu nhỏ:

– Ta phải làm như thế… như thế…

Thượng hoàng khen:

– Tuyệt diệu. Trẫm trao hoàn toàn vụ này cho khanh.

Lại có tấu chương của phò mã Phạm Ngũ Lão:

” Bọn Đô Mi Ni đánh Nội bàng không được. Lương không còn. Chúng quyết định rút binh.

Đường từ Chi Lăng đi Đại trợ, ngựa bị bẫy, không tiến được. Dã Tượng, Thúy Hồng tung phục binh đánh phía sau. Phía trước Phò mã Phạm Ngũ Lão, công chúa Thủy Tiên dàn binh chặn đường. Bọn Đô Mi Ni bầy trận chống trả. Cuộc chiến thực khủng khiếp, đến chiều thì Dã Tượng phải xua 3 đô Ngưu binh tham chiến, trận của Đô Mi Ni mới bị vỡ, chỉ còn 60 kị binh. Vì võ công của bọn Đô Mi Ni, bọn Trần Ích Tắc quá cao, 17 Ngưu binh tuẫn quốc. Quân tan, Đô Mi Ni kinh sợ. Nhờ bọn Trần Ích Tắc thuộc đường, nên dẫn chúng đi đường rừng thoát thân. Ngựa bị ta bắt hết.

Bộ ba Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu võ công thực kinh thế hãy tục. Phò mã Phạm Ngũ Lão, Thiên tượng đại tướng quân Dã Tượng chỉ chịu được của chúng không quá 10 chiêu. Đến công chúa Thủy Tiên dùng Mê linh kiếm pháp, mà cũng không thắng được chúng. Nhưng ông Bạch Viên đuổi theo chúng, đập chúng túi bụi. Chúng chạy tới Khâu cấp thì gặp phục binh của Vũ Uy vương. Vương dùng Nghĩa dũng binh dàn trận bao vây.

Vũ Uy vương đấu với Đô Mi Ni. Vương phi Ý Ninh đấu với Tôn Đạt. Hoài Văn vương đấu với Chu Tiêu.

Bọn Trần Ích Tắc cố phá vòng vây chạy. Khâm Từ hoàng hậu, quận chúa Như Vân chỉ huy Nghĩa dũng quân bao vây bọn Ích Tắc, Lộng, Hoãn, Lê Tắc. Trần Tú Hoãn bị Kim Đại Hòa bắt được, trao cho Khâm Từ hoàng hậu. Y quỳ gối rập đầu binh binh khóc lóc rằng hồi rút quân khỏi Đại việt, 9 bà vợ y bị phục binh của Hoài Nhân vương giết. Bốn đứa con trai của y bị thích khách giết ở Đàm châu. Hoàng hậu mủi lòng phóng thích y. Khi y chạy tới biên giới thì bị trúng phục binh của A Mít Lỗ Tề. Phu nhân của A Mít Lỗ Tề là công chúa Ngọc Tiên giết chết y. Hoàng hậu truyền đem đầu y ráp với thân, rồi chôn ở chân núi.

Hoài Văn vương đánh vỡ ngực Chu Tiêu ở hiệp thứ 37, Thoáng thấy Ích Tắc, Hưng Ninh vương quyết giết y. Vương chỉ đánh có 15 chiêu, y bị bay tung ra xa. Vương điểm huyệt y. Y quỳ xuống rập đầu binh binh, miệng niệm:

– Nam mô cứu khổ, cứu nạn Tuệ Trung bồ tát. Xin bồ tát tha cho cái mạng kiến ruồi này.

Hưng Ninh vương mắng:

– Thằng chuột chù kia. Mi cút đi cho khuất mắt ta.

Ích Tắc vọt mình, dùng kiếm đánh dạt Nghĩa dũng quân ra rồi chạy. Quay đầu lại y thấy Lê Tắc đang ôm đứa con 9 tuổi của y, trốn chạy, nhưng bị công chúa Trần Đại Như Vân xua Nghĩa dũng quân chặn đầu. Ích Tắc lao người đến cứu con. Một đội Võ vệ của y vây Như Vân. Y đánh ba chiêu như sét nổ. Như Vân bị trúng một chiêu kiếm của y, phớt qua bụng. Tắc vừa đánh vừa lùi về biên giới Nguyên. Thấy vương phi bị thương, Hoài Văn vương xả kiếm đánh gẫy kiếm của Ích Tắc, rồi điểm huyệt bắt sống. Giữa lúc đó Vũ Uy vương đánh Đô Ni Ni vỡ làm 4, 5 mảnh.Vương phi Ý Ninh xẻ Tôn Đạt làm 2 khúc. Trận chiến kết thúc.

Vương phi Như Vân bị thương nặng. Trong khi Hoài Văn vương cấp cứu phi. Ích Tắc quỳ gối rập đầu khóc lóc xin vương phi Ý Ninh tha mạng. Vương phi Ý Ninh còn đang phân vân thì Vũ Uy vương chỉ kiếm vào mặt y:

– Mày với tao là con một cha. Viễn tổ đã để di chúc rằng dù trong hoàn cảnh nào người trong tộc Đông a cũng không được giết nhau. Thế mà mày giết An Tư, Quốc Kiện. Hôm nay tao không giết mày, mà khoét mắt, chặt chân tay mày.

Ích Tắc khóc lóc thảm thiết. Hoàng hậu mủi lòng, truyền chỉ ân xá cho y.

Tổng kết, toàn bộ đạo quân 5 nghìn Thiết đột kị binh bị giết, bị bắt hết. Ba tướng vô địch Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu bị giết. Bọn An Nam gian thì Lại Ích Khuy, Trần Tú Hoãn bị giết.

Phía binh tướng Việt: quận chúa Như Vân, Đại đởm đại tướng quân Nguyễn Thiên Sanh, Ngưu tướng Trần Long Nhất, 13 chiến sĩ Đại đởm, 29 ngưu binh tuẫn quốc. Binh tướng ba hiệu Văn bắc, Hữu Thánh dực, Thiên thuộc tử trận không quá 30 người”.(7)

Thượng hoàng than:

– Hoàng hậu, Hưng Ninh vương tha cho Ích Tắc là phải. Vì nếu giải y về Thăng long, với tội giết Hoài Nhân vương, Như Vân thì dọc đường dù có Khâm Từ hoàng hậu bên cạnh cũng không cản được Quốc Toản làm nhục ông chú bội cha, phản anh. Ta thà để Ích Tắc phụ ta, chứ ta không phụ Ích Tắc.

Hai vua đang chuẩn bị rời Thăng long thì Hưng Đạo vương đã về tới. Thế là 2 vua, Hưng Đạo vương, Chiêu Minh vương, Chiêu Văn vương họp lại định kế đuổi giặc.

Hưng Đạo vương tâu:

– Kỳ trước, dân quân không đủ sức chống khi giặc tới làng. Bây giờ thì giặc tới, dân đủ khả năng giữ làng. Giặc vào nước đã 2 tháng. Dưới biển bị trận Vân đồn. Trên bộ bị trận sông Đuống, Gia lâm. Bây giờ chúng sắp vào Thăng long. Lương không còn, chúng chia nhau thành toán nhỏ đi cướp. Đây là lúc toàn quốc đánh giặc.

Vương ban lệnh:

– Mặt trận từ Vân nam đến Thăng long, do Chiêu Văn vương phụ trách.

– Mặt trận biển do Nhân Huệ vương phụ trách.

– Mặt trận Thiên trường, Trường yên do Chiêu Minh vương phụ trách.

– Mặt trận chính từ Như nguyệt tới Kiếp bạc do tôi phụ trách.

– Mặt trận Thăng long đến Như nguyệt do Hoài Văn vương phụ trách.

– Mặt trận từ Kiếp bạc về tới Lạng châu do Vũ Uy vương phụ trách.

– Tổng lĩnh mặt trận Thăng long, Kiếp bạc, Chi lăng, Bắc biên do Hưng Nhượng vương.

Cao Mang đề nghị:

– Hiện phía Nam giặc không có quân. Thần có thể đem hai hiệu binh Củng thần, Thiên cương về Thăng long tham chiến không?

– Được. Trấn viễn đại tướng quân, Đại Hành đem hiệu Thiên thánh về đặt dưới quyền Hoài Văn vương ở mặt trận Thăng long. Thế là Thăng long có 5 hiệu binh Hàm tử, Thần cách, Củng thần, Thiên cương, Thiên thánh.

Vương nhấn mạnh:

– Khi các nơi cùng đánh, giặc mệt mỏi thiếu ăn, thì ta thả tất cả tù binh bắt được tại Vân đồn, bọn tù binh làm giặc mất tinh thần.

Chiêu Văn vương hỏi:

– Khi thả chúng, thì nên thả tại đâu?

Thượng hoàng hỏi Địa Lô:

– Trung lang tướng được tặng mỹ danh Khổng minh non, vậy theo khanh, nên thả như thế nào?

Được Thượng hoàng khen, Địa Lô sướng chi siết kể. Hầu tâu:

– Thượng hoàng muốn ta phải thả như thế nào để làm cho toàn quân Nguyên kinh hãi? Thần đề nghị ta thả tại tất cả khu đóng đại quân của chúng, để chúng cùng kinh hãi một lúc. Các khu nên thả là: Thăng long, Gia lâm, Tây kết, Đông bộ đầu, Như nguyệt, Vạn kiếp.

Hưng Đạo vương khen:

– Đúng là mưu thần! Nhưng bây giờ chưa thả vội. Khi ta thả tù Vân đồn đương nhiên Thoát Hoan sẽ rút quân. Truy đuổi từ Thăng long về Kiếp bạc, do Hoài Văn vương, Trung lang tướng Địa Lô đảm trách. Từ Kinh bắc về Vân nam do Chiêu Văn vương. Gai góc nhất là truy đuổi thủy quân của Ô Mã Nhi, với đại quân của Áo Lỗ Xích từ Vạn kiếp tới Tư minh. Về thủy quân, tôi đảm trách. Về truy đại quân ta có Vũ Uy vương thì nhất định thành công.

Đại Hành cẩn thận hơn:

– Theo chiến pháp Thành Cát Tư Hãn, hai vua rời Thăng long bằng đường thủy. E Ô Mã Nhi sẽ truy đuổi. Cần có tướng võ công cao bảo giá!

Chiêu Minh vương cười:

– Võ công hai vua đâu có hèn? Thêm Khâm Từ hoàng hậu. Bây giờ thêm vương phi Ý Ninh. Tuy nhiên cần Hưng Ninh vương, hay Hoài Văn vương theo hộ giá tôi mới yên tâm.

Hai vua rời Thăng long thì cũng là lúc Hưng Ninh vương, Hoài Văn vương từ Bắc cương, đem thi hài vương phi Như Vân về Hàm tử an táng. Hưng Ninh vương theo hộ giá 2 vua. Vương là sư phụ của Trùng hưng hoàng đế, là bác ruột của Khâm Từ hoàng hậu, nên được tin cẩn.

Theo kế hoạch, Thoát Hoan vượt cầu phao vào Thăng long sáng ngày 29 tết. Năm cửa thành đều mở. Hồi nghị kế ở Đàm châu, khi vào Thăng long, y dùng 5 nghìn Thiết đột của Đô Mi Ni hộ vệ. Nhưng cho đến lúc này cũng chưa thấy tin tức đạo binh đó đâu. Y bàn với Áo Lỗ Xích cho năm nghìn kị binh, 5 nghìn bộ binh trấn trong thành.

Áo Lỗ Xích cho quân đóng làm 4 khu: khu thứ nhất là Tây kết, với 5 vạn phu kị binh, do Bôn Kha Đa chỉ huy. Khu thứ nhì là Đông bộ đầu, 5 vạn phu bộ binh do Mang Cổ Đái chỉ huy. Khu thứ ba là Chương dương, 5 vạn phu bộ binh do Đường Ngột Đải, Lưu Thế Anh chỉ huy.

Vào trong thành, Thoát Hoan gọi một viên tướng thân tín là Hữu thừa Ái Lỗ (Aruq=A Ruc), vì y biết nói tiếng Việt với tên cận vệ riêng Nguyễn Linh Nhan. Tên này giữ chức thiên phu trưởngï, vì y từng làm việc ở Tuyên phủ ty Thăng long lâu năm.

Thoát Hoan ban chỉ:

– Vương phi của tôi với 2 con hiện ẩn ở Thụy khuê. Hữu thừa mang một bách phu kị kinh đến đây rước phi. Nhớ, Thụy khuê là nơi sinh trưởng của vương phi. Họ hàng nhà phi đều ở đây. Tuyệt đối không được chém giết, cướp bóc, đốt nhà.

Ái Lỗ, Nguyễn Linh Nhan vâng chỉ ra đi. Chỉ hơn 3 giờ sau Ái Lỗ, Linh Nhan trở về, trên người đầy thương tích. Ái Lỗ trình:

– Thần men theo bờ hồ Tây, tới Thụy khuê thì cổng làng đóng lại, rồi ba tiếng thanh la vang lên. Từ hai bên đường, đội Nghĩa dũng quân gồm già, trẻ, nam, nữ reo hò tấn công. Lạ một điều họ dùng toàn vũ khí của ta; những thanh đoản đao của họ giống hệt đoản đao của quân mình.

Linh Nhan xen vào:

– Thần biết vũ khí đó của quan quân để lại trong lần ra binh trước. Bọn Nhật Huyên cấp cho dân binh dùng.

Ái Lỗ tiếp:

– Thần hô cả bách phu phi ngựa chạy, thì ngựa bị trúng dây, ngã lăn ra. Cả bách phu chiến đấu tuyệt vọng, rồi bị bắt. Thần nói với mụ đàn bà chỉ huy phục kích rằng: thần tuân chỉ của vương gia đi đón vương phi, vương phi là người làng này. Mụ không tin, thị dẫn thần gặp vương phi với 2 thế tử. Vương phi quở thần rằng:

” Quân Nguyên nhiều lần đến Thụy khuê cướp bóc. Thế mà khi thần tới không dừng ở đầu làng nói rõ mục đích nên mới bị hiểu lầm bị đánh”.

Vương phi ban cho thần với Linh Nhan uống rượu, ăn thịt nấu đông, dò, bánh chưng rồi tha cho thần về. Còn cả bách phu người nào bị thương thì được băng bó. Vương phi dậy: binh sĩ đói quá. Phi xin làng cho chúng ăn tết Việt. Tất cả bách phu đều được ăn bánh chưng, xôi gấc, giò, chả. Phi truyền giết một con trâu, thui lên cho ăn. Phi ban chỉ: Phi giữ bách phu ở lại canh gác, hộ tống phi với 2 thế tử. Bách phu này phi nuôi ăn. Phi nhắn thần khải với vương gia: phải cấm quân sĩ cướp bóc ít nhất trong một tháng, phi mới vào thành Thăng long. Bằng không phi không rời khỏi làng.

Thoát Hoan hãnh diện với chư tướng:

– Gái Việt như vậy đó. Thế mà bọn mặt dơi Ích Tắc, Tú Hoãn không ngớt bêu xấu phi với Ngọc Cách, Ngọc Quốc.

Y sai viết 10 bảng văn cấm quân sĩ cướp bóc, rồi sai kị binh mang trao cho Ngọc Trí. Ngọc Trí truyền chia cho 10 làng quanh hồ Tây.

Từ đấy, mỗi ngày Thoát Hoan đều sai sứ là một thái giám mang thực phẩm, mang quà tới cho Ngọc trí, cho hai con. Mỗi lần sứ tới, Ngọc Trí đều hỏi thăm chi tiết quân tình: đang làm gì? Đã làm gì? Sắp làm gì? Viên sứ cứ thực tình thuật cho Ngọc trí nghe. Y đâu có ngờ rằng canh Ngọc Trí luôn có 2 thiếu nữ chầu hầu. Đó là 2 nữ binh cấp vệ úy một tên Mai, một tên Quế. Sau khi viên thái giám về, hai nàng phúc bẩm ngay với Địa Lô.

Còn Đường Ngột Đải, khi dóng quân ở Chương dương xong, y sai một bách phu đến Nghi tàm đón Lý Ngọc Cách với 2 con. Sau 2 năm xa cách, gặp lại vợ con, y mừng chi siết kể. Nhớ đến hồi rút quân, nhờ vợ mà y thoát chết. Y càng sủng ái vợ hơn. Địa Lô bố trí 2 vệ úy tên Lan, Cúc giả làm tỳ nữ hầu Ngọc Cách. Mỗi tin tức của Nguyên, hai nàng đều báo cho Địa Lô.

Sáng mùng một tết, Áo Lỗ Xích sai chặt một cành đào lớn ở Nghi tàm, truyền một bách phu phi ngưa bất kể ngày đêm đem về Đại đô chúc tết Hốt Tất Liệt. Ái Lỗ thuật cho Ngọc Trí nghe. Lập tức vệ úy Mai báo cho Địa Lô. Địa Lô ra lệnh cho Minh tự Nguyễn Thức. Nên bách phu kị binh vừa vượt sông Như nguyệt thì trúng phục binh của Nghĩa dũng quân. Minh tự Nguyễn Thức đem cành đào đó dâng cho hai vua. Thượng hoàng truyền cắt cành đào làm hai, đem cắm ở lăng Hoài Nhân vương và vương phi Như Vân.

Biết vua Trần rút khỏi Thăng long bằng đường thủy. Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi đem thủy quân đuổi theo, lại sai A Bát Xích đuổi theo đường bộ, men theo bờ phía Đông sông Hồng. Vì sợ bóng, sợ gió bị ném đá, Thoát Hoan đi theo cánh thủy quân. Y ẩn thân trong khoang. Ô Mã Nhi đem theo 72 chiến thuyền, mỗi chiến thuyền 300 quân. Y sai người bắn tiếng đe dọa vua Trần:

” Mày chạy lên trời, tao theo lên trời. Mày chạy xuống đất tao theo xuống đất. Mày trèo lên núi, theo theo lên núi. Mày lặn xuống nước tao theo xuống nước”. (8)

Nhưng đoàn chiến thuyền của y vừa rời Thăng long hai mươi dặm thì 3 chiến thuyền đi cuối bị thủng đáy, chìm xuống sông. Y phải cho các chiến thuyền đi trước trở lại vớt quân lính bơi lóp ngóp đầy sông. Đoàn thuyền phải dừng lại vá đáy 3 chiến thuyền mất nửa ngày.

Tái khởi hành được 50 đặm, đến lượt 5 chiến thuyền đi đầu bị thủng đáy. Cả đoàn thuyền ùn lại trên sông, mất nửa ngày vá đáy, tát nước. Ô Mã Nhi được Nguyễn Linh Nhan mách:

– Vụ thuyền bị thủng đáy nhất định là thủ đoạn của bọn Ngạc binh. Bọn này thường ẩn náu dọc theo sông hễ ta sơ ý là chúng ra tay.

Ô Mã Nhi lệnh cho các thuyền trưởng hết sức quan sát đề phòng Ngạc binh.

Đoàn quân của A Bát Xích, qua vùng Hàm tử . Được Nguyền Linh Nhan chỉ điểm: Hàm tử là ấp phong của Hoài Văn vương, giầu có súc tích.

A Bát Xích báo với Thoát Hoan. Thoát Hoan ra lệnh cho Ô Mã Nhi đổ bộ cùng A Bát Xích đánh Hàm tử. Thế là thủy, bộ cùng tiến đánh. Nhưng Hàm tử gồm 4 xã, trải trên một vùng đất rộng. Nghĩa dũng quân Hàm tử được đào tạo thành những chiến binh thiện chiến. Các lớp rào, mương, lạch sâu. Thủy bộ Nguyên do hai tướng tài, mà đánh suốt hai ngày, chỉ chiếm được một ấp nhỏ. Khi Ô Mã Nhi xua quân tràn vào thì trong ấp không còn một bóng người, xục tìm lương thực cũng không thấy. Ngay bờ sông có 4 ngọn đồi. Thoát Hoan hỏi:

– Đó là cái gì vậy? Hãy coi chừng Man Việt dấu lương ở trong.

Nguyền Linh Nhan (Bá Linh) báo:

– Đó không phải đồi, mà là mồ chôn tập thể 3 vạn quân Nguyên của Toa Đô bị giết mấy năm trước.

Vì quân sĩ tỏ ra kinh sợ. Thoát Hoan sai đốt hết nhà cửa trong ấp.

Thấy việc đánh bốn xã thuộc Hàm tử quá khó khăn. Trong khi đó, yêu cầu trước mắt là đuổi bắt 2 vua Trần. Thoát Hoan ra lệnh rút lui, tiếp tục đuổi theo hai vua.

Nhưng ra tới cửa biển thì mất đấu vết. Y quan sát những làng cuối sông: đó là vùng đất phù sa mới bồi lên, đất đai mầu mỡ, cây ngọt, trái lành, gia súc béo tốt. Nhưng mỗi làng là một ải kiên cố: chỉ có một lối vào. Xung quanh là những lũy tre Đồng gộc, dầy đến 10 trượng. Ngoài lũy tre là những con lạch sâu, chông chà tua tủa. Muốn đánh một xã phải tốn rất nhiều mạng sống. Mà vào được làng thì dân chúng đã theo lối đi riêng trốn sang làng bên cạnh. Lương thực mang đi hết, hoặc bị đốt, bị hủy. Tự nhiên trong lòng viên Thái tử nảy ra mối cảm thán:

– Chừng thức này thì lại như lần trước. Quân đi 50 vạn, e về không quá 10 vạn.

Đuổi, truy tìm không thấy vua Trần, Thoát Hoan sai Ô Mã Nhi, A Bát Xích đổ quân lên vùng Long hưng, nơi có lăng mộ vua Trần. Nguyễn Linh Nhan xui Ô Mã Nhi:

– Nên sai quân đào lăng Trần Cảnh lên (Trần Thái tông), làm cho con cháu họ Trần kinh sợ.

Nhưng khi mở nắp quan tài, thì bên trong chỉ có khúc gỗ. Nguyễn Linh Nhan hiến kế:

– Đây là mả giả. Không biết mả thực của Trần Cảnh đâu, thì mình cứ đào tất cả mồ mả vùng này lên, tuy không đào được mả Trần Cảnh thì thế nào cũng trúng ngôi mả của tổ tiên chúng.

Khốn nạn thay cho những người đã chết từ cả trăm năm, mồ bị quật lên, xương đem vứt ra đầy đồng. (9)

Sau 4 ngày truy đuổi vua Trần không thấy. Thoát Hoan trở về Thăng long. Quân từ Tư minh đã nhập Việt xong. Thoát Hoan, cho đóng từ Như nguyệt về tới Gia lâm, Đông bộ đầu, Chương dương, Tây kết.

Vấn đề trước mắt là thiếu lương. Thoát Hoan mong bọn Trần Ích Tắc tới để nhân danh An Nam quốc vương ra lệnh cho các xã nộp lương, mà không thấy bọn chúng đâu. Đường từ Bắc cương trở về bị gián đoạn ở Đại trợ, Khâu cấp, Khả lan vi, Chi lăng, Nội bàng. Còn đường từ Vân nam về còn tệ hại hơn, đến tin tức cũng không có. Y họp các tướng bàn định kế sách. Câu đầu tiên y đặt ra là:

– Đúng kế hoạch thì Trương Văn Hổ phải tới đây trước tháng chạp. Tại sao đến nay vẫn biệt tăm?

A Bát Xích góp ý:

– Không lẽ bọn họ bị An Nam chặn đánh?

Ô Mã Nhi nổi cáu:

– Không thể. Khi tôi đem chu sư vào vịnh Hạ long, tên Trần Khánh Dư đem chiến thuyền tôm tép ra nghinh chiến. Tôi đánh tan tác, chúng bỏ chạy như vịt. Tôi đã cho đóng đồn 2 bên cửa sông Bạch đằng, lai trấn ở Vân đồn, An bang. Như vậy tên Trần Khánh Dư đâu còn lực lượng đón đánh Trương Văn Hổ nữa?

– Vậy còn lực lượng Thiết đột tinh nhuệ nhất của ta trấn ở hậu cứ Tư minh. Tôi đã ban chỉ cho Đô Mi Ni, Trần Ích Tắc rằng phải khởi hành vào ngày rằm tháng Chạp. Để chúng ta tổ chức mừng tết Nguyên đán. Tại sao đến lúc này, không một chút tin tức nào cả. Nếu bảo chúng bị phục kích thì với 5 nghìn Thiết đột, không lẽ bị diệt hết? Bản lĩnh bộ ba Đô Mi Ni, Tôn Đạt, Chu Tiêu, e không một tướng Man Việt nào địch lại. Aáy là không kể Trần Ich Tắc, là đệ nhất cao nhân An Nam. Lạ lùng!!!

Nguyễn Linh Nhan báo cáo:

– Thói quen của bọn Man dân là chỉ có các quan của chúng ban lệnh cho các Đại tư, Câu đương, thì bọn này mới chịu cung ứng lương thảo. Vụ mùa năm rồi khắp An Nam trúng mùa. Làng xã nào lúa gạo cũng chất đống. Mình cần tên mặt mo Ích Tắc với bọn Tú Hoãn, Văn Lộng, trên danh nghĩa vua của chúng ban chỉ chúng mới chịu nộp lúa gạo. Vậy cần sai sứ về Tư minh triệu bọn này tới gấp.

Thoát Hoan ban chỉ:

– Đợi bọn Ích Tắc tới ít ra phải 4 đến 5 ngày. Chúng có thu góp được lương cũng phải 5 ngày nữa, vị chi là 10 ngày. Trong khi lương của ta hết sạch rồi. Cô gia quyết định như sau: một là Ô Mã Nhi đem chiến thuyền ra biển xem lại những đồn trấn đóng ra sao? Trương Văn Hổ có đi lạc đường không? Hai là Áo Lỗ Xích, A Bát Xích chia quân vào các làng cướp lương thực về cho quân dùng tạm.

Nguyễn Linh Nhan (Bá Linh) hiến mưu:

– Đem quân vào các làng cướp lương không dễã. Mỗi làng của chúng là một ải. Hồi mấy năm trước Lý Hằng phải hy sinh mấy nghìn người mới đánh được một làng. Mà khi vào thì không cướp được gì cả. Vừa rồi Tả thừa A Bát Xích, với Tham tri Ô Mã Nhi đánh có một ấp của Hàm tử, mà thủy, bộ hy sinh hơn nghìn người mới chiếm được, khi vào trong, thì bọn Man dân dấu thóc gạo đâu hết rồi.

Thoát Hoan nổi cáu:

– Cô gia cho chư tướng thả quân vào bất cứ khu nào có dân, thấy của cướp của, gặp nhà đốt nhà. Đàn ông con trai thì giết tân số. Đàn bà con gái muốn hiếp, muốn giết tùy thích.

Tin này tới hành doanh của Hoài Văn vương. Vương sai chim ưng khẩn báo cho Nhân Huệ vương biết. Một mặt vương lệnh cho Yết Kiêu:

” Trải Ngạc ngư binh dọc sông từ Thăng long ra biển. Tìm đủ cách đánh thủng chiến thuyền của Ô Mã Nhi. Tăng phái cho Nhân Huệ vương 10 đô Ngạc binh. Một mặt vương chia hiệu binh Hàm tử thành từng đô trấn các xã quanh Thăng long.Dân, quân cùng hợp nhau giữ làng, không cho giặc cướp lương”.

Có lệnh của Hưng Đạo vương:

” Từ hôm Ô Mã Nhi từ biển vào Kiếp bạc, lực lượng thủy quân của y còn nguyên. Y lập xưởng đóng chiến thuyền. Đến lúc y theo Thoát Hoan về Thăng long, khi qua Kinh bắc mới bị Nguyễn Thức dùng thuyền Ngư dân đánh chìm mấy chiến thuyền. Nhưng chúng đã sửa được. Vừa rồi Thoát Hoan đem thủy bộ đuổi theo 2 vua, Ngạc binh đánh chìm trước sau 61 chiến thuyền. Chúng sửa được 21 cái. Như vậy trên 650 đại chu của chúng còn nguyên. Chiến thuyền của chúng bị Ngạc binh đánh chìm trên sông, sông không sâu, chúng có thể sửa được. Bây giờ chúng ra biển tìm Trương Văn Hổ, ta chấp nhận đánh lớn, Thuyền của chúng bị đánh chìm trên biển thì không sửa được. Ta cần phá chu sư của chúng ít ra mấy trăm chiếc, để thủy quân của chúng không còn là mối ưu tư nữa. Vậy Hoài Văn vương đem Địa Lô, Yết Kiêu ra Vân đồn hợp với Nhân Huệ vương thi hành lệnh này”.

Hoài Văn vương, Địa Lô, Yết Kiêu âm thầm tới Vân đồn. Nhân Huệ vương dùng chim ưng triệu tập thống lĩnh các hạm đội. Bạch đằng, Âu Cơ, Thần phù,Thăng long, các Đại tư, Câu đương những làng, xã tại vùng Vân đồn, các cửa sông Bạch đằng, sông Hồng về họp. Nơi họp là soái hạm của hạm đội Thăng long.

Trung lang tướng phó quản Quả Khu mật viện Địa Lô trình bầy:

– Thoát Hoan, Áo Lỗ Xích, A Tai, Phàn Tiếp bị sa lầy không lối thoát vì chiến pháp của Thành Cát Tư Hãn.

Đại tư xã An biên hỏi:

– Thế nào là chiến pháp Thành Cát Tư Hãn?

– Thành Cát Tư Hãn dùng sức mạnh kị binh, tràn ngập, chiếm thành bắt vua chúa, chúa tướng. Sau đó xử dụng người địa phương đặt lên làm vua, làm quan, rồi sai bon này cung ứng lương thảo, mỹ nữ. Biết trước hành động của chúng, Hưng Đạo vương thiết kế phá chiến pháp Thành Cát Tư Hãn. Người ra lệnh, tất cả các vùng từ biên giới tới Thăng long, quân ta chỉ đánh cầm chừng rồi rút ẩn vào dân. Hai năm trước, quân sư của Thoát Hoan là A Lý Hải Nha cho đại binh chiếm Thăng long. Hai vua rút lui, chờ cho giặc mệt mỏi vì muỗi, vì đỉa, vì lam chướng, vì ẩm thấp, rồi phản công. Cuối cùng đại phá được. Lần

này quân sư là Áo Lỗ Xích, y là một tướng kị binh, nên cũng áp dụng chiến pháp Thành Cát Tư Hãn. Hưng Đạo vương lại mở cửa cho chúng vào Thăng long. Chúng tung thủy bộ lùng bắt 2 vua bị thất bại. Lương thảo chở theo đường từ Vân nam, Tư minh, bị ta chặn đánh. Vận tải đường thủy bị ta bắt sạch. Bây giờ y chấp nhận cho quân đi các xã cướp lương. Mà mỗi xã của ta là một ải. Chúng muốn đánh cướp thì phải hy sinh nhiều nhân mạng, mà khi chiếm được xã, dân ta dấu, hoặc hủy hết lương. Cho đến lúc này y cũng chưa biết đoàn thuyền chở lương của Trương Văn Hổ bị chúng ta đánh chiếm. Y sai Ô Mã Nhi ra biển đón Trương Văn Hổ.

Hoài Văn vương tiếp:

– Hốt Tất Liệt cho rằng Thoát Hoan thua, vì không có thủy quân. Lần này y dốc toàn bộ thủy quân sang đánh ta. Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp thống lĩnh. Ngoài 3 đoàn thuyền tải lương của bọn Trương Văn Hổ, chúng có tới 650 chiến thuyền lớn. Từ hôm nhập Việt, thủy quân của chúng bị Ngạc binh đánh chìm trước sau 50 chiếc. Nhưng chìm trong sông, chúng vá được. Thành ra lực lượng thủy quân của chúng còn nguyên.

Vương ngừng lại, đưa mắt cho Địa Lô. Địa Lô tiếp:

– Hưng Đạo vương ban lệnh cho chúng ta phải phá đoàn chiến thuyền của chúng. Chúng có 650 chiến thuyền, từ hôm nhập Việt bị hư, bị đắm mất 21 chiếc. Hiện chúng đồn trú tại Kiếp bạc 112 chiếc do Lưu Khuê, Trương Ngọc chỉ huy, tại Thăng long 90 chiếc do Phàn Tiếp chỉ huy. Bây giờ Ô Mã Nhi thống lĩnh 427 chiếc ra biển. Tôi xin để Nhân Huệ vương dàn trận phá chúng.

Nhân Huệ vương ban lệnh:

– Ngày mai là 8 tháng giêng. Từ sáng đến giờ Tỵï nước lên cao. Sang giờ mùi thì nước xuống thấp. Vậy Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn đem hạm đội Thăng long ém vào các sông nhỏ dọc sông Hồng. Đợi cho đoàn chiến thuyền giặc rời sông Hồng ra biển, thì dàn chiến thuyền chặn không cho chúng rút về Thăng long. Cũng chặn không cho các chiến thuyền từ Thăng long ra cứu Ô Mã Nhi. Trường hợp phải giao chiến, xử dụng Ngư thuyền của dân chúng nhử cho thuyền giặc vào các nhánh sông nhỏ. Buổi chiều nước rút, chiến thuyền của chúng lớn, bị mắc cạn thì xua Ngư thuyền dân đánh.

Vương gọi đô đốc Nguyễn Chế Nghĩa, vương trao cho một mảnh lụa:

– Trên mảnh lụa này tôi ghi chú những nơi có đá ngầm. Đô đốc dàn chiến thuyền, dân thuyền theo các trận pháp trong Vạn kiếp tông bí truyền thư. Khi thuyền giặc đến thì vừa đánh, vừa lui, cho chúng lọt vào trận địa, rồi dùng Ngạc binh, Ngư thuyền đánh chúng.

Vương gọi đô đốc Phạm Cự Địa:

– Đô đốc dàn hạm đội ra cửa sông Hồng. Khi thấy đoàn chiến thuyền của Ô Mã Nhi ra thì tấn công. Vừa đánh, vừa lùi về phía vịnh Hạ long; khi chúng lọt vào trận địa của hạm đội Thần phù thì quay lại đánh.

Vương gọi đô đốc Võ Văn Sáu:

– Đô đốc đem hạm đội Bạch đằng chia ra làm 2. Một nửa dàn ra phía nam vịnh Hạ long, một nửa dàn ra ngoài khơi. Khi đoàn thuyền của Ô Mã Nhi bị đánh tan, chúng sẽ chạy ra khơi, hoặc về phía nam thì bắt lấy.

Vương nói với các Đại tư, Câu đương:

– Các Nghĩa dũng quân của những xã ở cửa sông Bạch đằng, cùng vùng Vân đồn thì tham chiến với hạm đội Âu cơ, Thần phù. Các Nghĩa dũng quân của những xã cửa sông Hồng thì tham chiến với hạm đội Thăng long.

Đô đốc Võ Văn Sáu hỏi:

– Thưa vương gia. Những thuyền của Nguyên bị đánh chìm, thì bỏ đi, hay mình cho thủy quân vá , sửa chữa lại mà dùng.

Nhân Huệ vương khen:

– Đô đốc có câu hỏi thực thông minh. Nếu những chiến thuyền của giặc bị chìm, mà ta có thể sửa chữa được thì cố gắng sửa chữa mà dùng.

Nhân Huệ vương với bộ tham mưu đóng trên một đỉnh núi cao của vịnh Hạ long. Hoài Văn vương, Yết Kiêu, Địa Lô đóng trên một soái hạm.

Sáng sớm hôm đó, ngày 8 tháng giêng. Sương mù bao phủ dầy đặc trên vịnh Hạ long.

Hoài Văn vương cùng bộ tham mưu đóng trên chiến thuyền đậu ngoài khơi cửa sông Hồng.

Giờ thìn, thì chim ưng đem thư báo tin của Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn:

– Đoàn thuyền của Ô Mã Nhi dàn theo hàng 2 đã xuất hiện ở đầu sông.

– Đoàn thuyền bắt dầu rời cửa sông ra biển.

– Đoàn thuyền đã ra biển. Chúng dàn thành đội hình đi biển 1-3-9-12-18.(11)

– Đô đốc Phạm Cự Địa phất cờ. Hạm đội Thần phù dàn thành trận thế.

– Đoàn thuyền Nguyên xung tới tấn công hạm đội Thần phù. Cuộc chiến ác liệt.

Yết Kiêu cầm cờ phất lên.

– Hai đô Ngạc binh từ hạm đội Thần phù tuồn xuống biển.

– Hạm đội Thần phù lùi về hướng vịnh Hạ long.

– Nhiều chiến thuyền Nguyên bị chìm. Thủy quân bơi đầy mặt biển.

– Nguyên chia chiến thuyền làm 2. Một nhóm quay lại vớt lính bị đắm thuyền. Một nhóm đuổi theo hạm đội Thần phù.

Soái thuyền chở Hoài Văn vương rút lui về phía Vân đồn.

Trời đã sang giờ mùi, nước biển rút xuống.

– Các chiến thuyền Nguyên lọt vào trận địa của hạm đội Âu cơ.

Nhân Huệ vương phất cờ.

Hạm đội Thần phù ép hai bên. Hạm đội Âu cơ chặn phía trước. Ngư thuyền từ các chân núi túa ra, cùng thủy quân Việt đánh các chiến thuyền Nguyên. Tám đô Ngạc binh tuồn xuống nước. Các chiến thuyền Nguyên ỷ thuyền lớn, húc vào các dân thuuyền, bị trúng đá ngầm vỡ. Lính Nguyên bơi đầy biển như rươi. Ngư dân dùng chài bắt sống thủy quân Nguyên.

Ngạc binh đã đục thuyền. Thuyền Nguyên bị chìm, bị lật nghiêng. Lính Nguyên nhảy xuống biển, bị ngư dân tung chài bắt.

Cuộc giao tranh tới hết giờ thân, thì các thuyền Nguyên bỏ chạy về phía cửa sông Bạch đằng. Nhân Huệ vương phất cờ thu quân. Bốn đô đốc cùng tề tựu phúc trình:

Tổng số thuyền Nguyên bị đánh chìm, bị bắt là 120 chiếc. Tù binh trên 3 vạn.

Đây là trận Vân đồn 3. Trận thứ nhất Nhân Huệ vương đánh với Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Lưu Khuê, Trương Ngọc bị bại. Bị Thượng hoàng sai trung sứ còng tay. Trận thứ nhì có sự tham dự của Hoài Văn vương Trần Quốc Toản, Trung lang tướng Nguyễn Địa Lô, Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu, đánh với bọn Trương Văn Hổ, Phí Công Thìn, Từ Khánh. Đại thắng. Trận thứ ba đại thắng, bắt đánh chìm bắt sống 120 chiến thuyền.

Trở về tổng hành dinh Vân đồn, Nhân Huệ vương họp các đô đốc, các tướng để nghe phúc trình. Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn thống lĩnh hạm đội Âu cơ trình với Nhân Huệ vương:

– Hồi đánh đoàn chở lương của Trương Văn Hổ, mình bắt được hơn nghìn thủy binh Nguyên gốc Hán. Họ khai rằng bị Mông cổ bắt ép đi đánh các nước lân bang. Họ mong được chiến đấu cho dất nước của vua Phục Hy, Thần Nông, Hoàng đế. Chú giao cho cháu huấn luyện lại, rồi gửi về cho Trung Nghĩa vương dùng làm lực lượng Cần vương Tống. Bây giờ Trung Nghĩa vương gửi sứ sang gặp chú để nhận đạo binh này. Sứ xin cầu kiến. (12)

– Sứ là ai?

– Thưa chú chánh sứ là Quốc công Triệu Hòa. Phó sứ là công chúa Triệu Ngọc Hoa.

Nhân Huệ vương vẫy Hoài Văn vương, Trung lang tướng Địa Lô, Thiên kình đại tướng quân Yết Kiêu, công chúa Vương Chân Phương cùng ra đón.

Nhân Huệ vương từng nghe nói nhiều về anh em triệu Hòa, nhưng đây là lần đầu tiên vương gặp hai người. Còn Yết Kiêu, Địa Lô, Quốc Toản, Chân Phương, từng sống với anh em họ triệu ở Trường sa, từng cùng nhau chiến đấu ở Chiêm, cùng đánh bắt Trần Di Ái ở Hỏa giáp, nên thâm tình còn hơn ruột thịt.

Lễ nghi tất.

Từ khi xẩy ra cuộc đụng độ với Như Vân ở Hàm tử, Ngọc Hoa đau khổ bỏ về Bắc cương với các anh, trong lòng ôm mối hận tình. Bây giờ gặp lại Quốc Toản, cả hai bên cùng nhìn nhau bằng tất cả yêu thương nồng nàn.

Triệu Hòa lên tiếng:

– Khải vương gia, hiện Cần vương đã kiểm soát được phân nửa lãnh thổ vùng Kinh hồ, Vân nam và Tứ xuyên. Vì bao nhiêu tinh binh bọn Thát đát đã dốc hết, đem xuống đánh Đại việt. Về thủy quân, hiện bọn chúng không còn gì nữa. Nay nhờ Đại việt trao cho đám tù binh của trận đánh tháng chạp vừa rồi với trận vừa qua, thì Cần vương sẽ làm chủ vùng lãnh hải Hoa nam.

Nhân Huệ vương truyền bầy tiệc mừng chiến thắng, đãi khách. Trong bữa tiệc, Địa Lô đưa mắt ra hiệu cho Vương Chân Phương rồi liếc mắt nhìn Quốc Toản, Ngọc Hoa. Chân Phương hiểu ý cái ông Khổng Minh non:

– Quốc Toản ơi! Về gia đình thì chị là vợ anh Yết Kiêu, tức chị dâu của em. Về nghĩa chị là mẹ sữa, thì chị là mẹ em. Chị muốn nói với em một điều.

Tuy Quốc Toản tước là vương, là đại tướng bách chiến bách thắng. Nhưng vương là người tình cảm, đối với Vương Chân Phương tình mẹ con nồng nàn như mẹ đẻ. Vương cung kính:

– Con xin lắng tai nghe lời dậy dỗ của mẹ.

Vương Chân Phương nói với Hoài Văn vương:

– Từ khi một tuổi, con với Ngọc Hoa đã chơi đùa với nhau, học chữ với nhau ở Trường sa. Rồi phong ba đưa đến, Tống triều bị nạn Thát đát, khiến anh em Ngọc Hoa phải kiều ngụ tại Đại việt. Con với Ngọc Hoa từng sát cánh trong các trận bên Chiêm, trong trận bắt Di Ái. Thế nhưng vì mẹ con đã đính ước trăm năm cho con với mẹ Như Vân. Vì vậy, mà Ngọc Hoa phải xa con. Nay Như Vân đã vị quốc vong thân. Tục ngữ có câu: trai không vợ như nhà không nóc. Vậy con với Ngọc Hoa nên nối lại tình thanh mai, trúc mã. Con nghĩ sao?

– Mẹ dậy chí phải. Nhưng mẹ cho con chịu tang Như Vân để trọn đạo phu thê. Hơn nữa con phải thưa với song thân con đã.

Địa Lô nói với Triệu Hòa:

– Quốc công, Lô tôi lớn gan, xin Quốc công cho công chúa Ngọc Hoa ở lại Đại việt, làm cây cầu nối giữa Khu mật viện Đại việt với Cần vương Tống. Không biết ý Quốc công như thế nào?

Triệu Hòa chắp tay:

– Đó là điều chúng tôi cầu mà không được.

Trận Vân đồn 3 đánh vào ngày 8 tháng giêng năm mậu tý niên hiệu Trùng Hưng thứ tư (10-2-1288) đời vua Trần Nhân tông. Bên Trung nguyên là niên hiệu Chí Nguyên thứ 25 đời Thế tổ Hốt Tất Liệt.

–––––––––––––––––––––––––––––

(1) ANCL,q4

(2) NS q.209, An nam truyện.

(3).Minh tự, chức quan văn đời Trần, dưới An vũ sứ. An vũ sứ tương đương với ngày nay là Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh. Minh tự coi về lễ nghi, học chính. Tương dương với ngày nay là Phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh coi về văn hóa, giáo dục, đào tạo.

(4) Đô Mi Ni Băng, người Đức, theo Mông cổ. Họ của y là Brand . Đô Mi Ni là tên thánh viết theo tiếng Đức là Dominik, tiếng Pháp là Dominique, tiếng Việt là Đôâ Mi Ni Cô. Nhờ có sức khỏe được Hốt Tất Liệt tuyển làm trưởng đoàn cận vệ. Trong khi ở Trung quốc, y học được võ công Trung thổ. Bản lĩnh y ngang với Ô Mã Nhi, A Bát Xích, Áo Lỗ Xích, Toa Đô. Y từng lập đại công trong trận đánh Tương dương, Phàn thành và Nhai sơn. Vì lần trước, Thoát Hoan bị Trần Quốc Toản, Trần Quốc Kiện, Dã Tượng, Yết Kiêu đại náo suýt bỏ mạng. Nên lần này Hốt Tất Liệt sai y đem Thiết đột hộ tống Thoát Hoan. Thoát Hoan cho y ở lại Tư minh, phòng khi thua chạy, y sẽ bảo vệ chúa tướng. Y bị Vũ Uy vương đập chết tại Khâu cấp.

(5) ANCL q4, Chinh thảo vận lương q19.

(6) NS q. 137, Sát Hãn truyện, tên Mông cổ là Ca yan đọc là, Tra-gan. NS phiên âm thành Sát Hãn.

(7). ANCL.19, phần tự sự, Lê Tắc thuật cuộc chạy trốn của bọn An Nam gian như sau:

” Cơ cực, hiểm nguy, vạn phần chết, không một phần sống. Ngày chạy mấy trăm dặm. Từ nửa đêm đến sáng về tới châu. Qùy gối hướng về Đại đô vọng bái cửa khuyết mừng tết năm Mậu tý. Mùng một tết đặt tiệc rượu… mừng chạy thoát thân”.

(8).Từ Minh Thiện, An Nam hành ký.

(9) Đại-Việt sử ký toàn thư,q5, Trần Kinh-Hòa chú giải, Đông-kinh đại học, Đông-dương Văn-hóa nghiên cứu sở xuất bản, niên hiệu Chiêu-hòa thứ 59.

(10). Như (9)

(11). Đây là lối dàn trận của thủy quân Nguyên khi đánh Nhật bản, Chiêm thành và Đại việt: đi đầu là một chiến hạm mũi bọc đồng. Kế tiếp 3 chiến hạm dàn hàng ba. Tiếp theo hàng 6, hàng 9, hàng 12 và hàng 18.

(12) Phán thủ thượng vị Nhân đức hầu Trần Toàn thống lĩnh hạm đội Âu cơ là con của Hưng Ninh vương. Hưng Ninh vương với Nhân Huệ vương là anh em con chú, con bác. Nên hầu gọi vương là chú.

—-> Hồi thứ 110

Advertisements
This entry was posted in 10- ANH HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ. Bookmark the permalink.

One Response to ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.VI: Hồi 109)

  1. hiep8024 says:

    Cháu chào chú. Vì không biết chú tuổi tác ra sao nên cháu gọi bằng chú. Cháu đã đọc Nam quốc sơn hà do chú viết. Cháu rất mừng nay lại tìm thấy blog của chú nên cháu nghĩ chú cũng không quá lớn tuổi. Nếu chú có email thì cho cháu xin để liên lạc với chú. Cháu chào chú và chúc chú mạnh khỏe!

Comments are closed.