ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.IV: Hồi 81)

Hồi thứ tám mươi mốt
Đại chiến Điếu Ngư

Sau khi các đạo quân lên đường, Vũ Uy vương cùng Đô đốc Giang An Triệu Tử Minh, Hoàng Hiệp lên một đài cao hướng về Mân giang, theo dõi tình hình.

Có chim ưng của Địa Lô mang thư về. Vũ Uy vương mở ra:

“ Mọi sự như ý”.

Cô vợ trẻ Ngọc Hồng của Địa Lô tỏ ra là người có bản lĩnh. Nàng mặc quân phục, lưng đeo kiếm, theo sát bên vương phi Ý Ninh, Vương Chân Phương. Nàng hỏi phi:

– Hai tướng Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc là con của hai vị trong đội Kị mã Long biên, từng theo phò mã Trần Thủ Huy lập biết bao nhiêu công thời Thành Cát Tư Hãn, được phong Vạn phu trưởng, tước tới hầu. Nay hai con lại được Mông Ca trọng dụng, thế mà hai ông lại bỏ hết để trở về với Đại Việt. Hai ông này hy sinh quá lớn.

Vương phi giảng:

– Cháu phải nhớ câu tục ngữ: cáo chết ba năm, quay đầu về núi. Người Việt mình có lòng yêu nước cực mạnh. Vì vậy hai tướng Cao San, Mạnh Quốc mới bỏ hết công danh, lợi lộc để trở về với Đại Việt.

Vũ Uy vương hỏi Ngọc Hồng:

– Thế nào? Phu nhân của Văn bắc thượng tướng quân, cháu đã học võ chưa? Ai là sư phụ?

Ngọc Hồng xấu hổ:

– Thưa chú cháu chưa từng học võ. Nhưng trên đường từ Văn sơn sang đây, chị Thúy Hồng đã dạy cháu các thế tấn. Thím dạy cháu 18 thế kiếm căn bản.

– Trong hai người cháu muốn học võ với ai?

– Thưa chú! Cháu muốn học Mật công của chị Thúy Hồng. Học kiếm pháp của thím.

Triệu Tử Minh chỉ về phía trước, xa xa ánh đèn lấp lánh trong đêm:

– Kia là khu doanh trại Nga biên, kia là khu trại Thanh thần. Kia là khu thuyền chở lương của bọn Mông cổ.

Vũ Uy vương, Địa Lô, Triệu Tử Minh cùng hướng mắt nhìn về ba nơi chờ đợi. Thần trí cả ba đều căng thẳng.

Vương Chân Phương chỉ về phía Thanh thần:

– Binh lính trại Thanh thần đã tắt đèn đi ngủ. Sao lại cóù mấy đốm lửa mới đốt lên chập chờn! Hình như là lửa của đuốc. Có tiếng người reo!

Đô đốc TriệuTử Minh kinh hoảng:

– Đúng rồi, hiện có cuộc giao chiến tại Thanh thần. Thiên Sanh với Yết Kiêu chưa chiếm được thuyền chở lương, mà Thanh thần đã bốc lửa! Nguy tai! Bọn Mông cổ được báo động thì kế hoạch hỏng hết.

Thình lình hỏa pháo từ khu thuyền chở lương vọt lên cao, rồi có tiếng trống thúc vang lừng. Vũ Uy vương reo:

– May quá! Thiên Sanh, Dã Tượng thành công rồi.

Dọc Dân giang, lửa trên các con thuyền sáng rực. Trên sông 50 con thuyền cùng đốt đuốc, ánh lửa như một con rồng từ từ bơi về phía Giang an.

Chim ưng từ mặt trận bay về. Ưng binh trình vương ba bức thư. Thư của Yết Kiêu:

“ Chiếm trọn vẹn 50 thuyền lương. Đang cho thuyền về Giang an. Binh tướng vô sựï. Bắt hơn 100 tù binh là người Mông cổ. Thả tù binh về với Mông cổ. Trước khi thả nói cho chúng biết: chính Dương Dại Uyển sai chở lương về với Tống”.

Thư của Đại sư Phùng Tập:

“ Đánh phá, đốt tan hoang trại Nga biên. Không thấy Dương Đại Uyển, Đặng Văn đâu. Hầu hết binh tướng đầu hàng. Quân số lên tới hơn hai vạn.

Phía ta, binh tướng vô sự. Duy 4 Tế tác Tống bị tử thương. Lương thảo, lừa ngựa nhiều quá! Đếm không xuể. Bắt được 47 tù binh Mông cổ, đã thả ra. Trước khi thả nói với chúng: Dương Đại Uyển đã phản Mông cổ, trở về với Tống. Chính Uyển đã thiết kế đánh trại này. Đang tái tố chức lại đội ngũ hàng binh Tống. Chờ Vương gia ban chỉ dụ, sẽ tiến đánh Đông sơn, Mi sơn ».

Thư của Thúy Hồng:

“ Tế tác Thanh thần bị lộ. Toàn bộ bị bắt, bị giết”.

Hoàng Hiệp cuống lên:

– Làm sao bây giờ? Vương phi với Thúy Hồng chỉ có vệ Đại đởm của hiệu Văn Bắc không quá trăm người, thêm hai đội kiếm trận Mê linh 72 người, với Quân đoàn Khâu Bắc thì sao địch nổi hơn vạn quân tại đây? Dù chúng không dám xuất trại. Aáy là chưa kể kị binh Mông cổ từ Nga biên kéo về? Cần tiếp viện cho vương phi!

Vũ Uy vương quyết định:

– Ta không cần tiếp viện. Tôi khắc có biện pháp.

Khoảng hơn khắc sau có chim ưng đem thư về:

“ Đã tiếp cận được với Trần Mạnh Quốc, Vũ Cao San. Kị binh của Vũ, Trần tràn đến giao chiến với quân của Dương Đại Uyển.

Quân Thanh thần đầu hàng hết, bắt sống được Dương Đại Uyển, Đặng Văn. Đô thống Trần Nhị đem Quân đoàn Khâu Bắc, từ sau trại tràn vào khống chế toàn bộ binh tướng. Đang vận chiến lợi phẩm xuống thuyền về Giang an. Hầu hết hàng binh đều xin trở về với Tống. Tổ chức được một đạo binh hơn vạn người. Chờ Dã Tượng tới thì tiến đánh Thành đô”.

Trời dần sáng.

Đứng trên đài cao, Vũ Uy vương cùng Hoàng Hiệp, Đô đốc Triệu Tử Minh nhìn đoàn thuyền chở lương đang xuôi về Trường giang. Trên các mũi thuyền đều cắm cờ Tống. Yết Kiêu, Thiên Sanh từ một con thuyền lên bờ tiến về phía đài báo tin thắng trận. Vũ Uy vương, Đô đốc Tử Minh xuống đài khen ngợi:

– Mừng cho Đại tống, Đại Việt. Mừng cho hai tướng đã lập đại công. Thế là Tống có một kho lương vĩ đại. Mông cổ mất toàn bộ kho lương dự trữ.

Yết Kiêu đưa ra tập giấy:

– Khải vương gia, đây là hồ sơ lương thực của chúng.

Vũ Uy vương trao cho Đô đốc Triệu Tử Minh. Ông cầm lên đọc:

– Gạo trắng 52 vạn hộc. Tấm 15 vạn hộc. Ngô 21 vạn hộc. Sắn, khoai khô 20 vạn cân.

Ngoài ra cá khô, tôm khô, thịt khô không biết bao nhiêu mà kể.

Đoàn Ngạc ngư, đoàn Đại đởm cũng đã rời khỏi thuyền. Rồi đoàn người của Phùng Tập do một sư đệ tử của Thiên Phong chỉ huy tên Phong Anh với 10 con thuyền chở lương thảo, trâu, bò, lừa ngựa cướp được.

Phong Anh khải với Vũ Uy vương:

– Khải vương gia, anh em chúng tôi cùng đội Đại đởm tới trại Nga biên giữa lúc binh tướng trong trại trúng độc. Chúng tôi tràn vào trại đốt phá, chém giết các tướng người Mông cổ. Quân đoàn 1, quân Đoàn 2, rồi Quân Đoàn 3 từ ba phía trại tiếp viện. Chúng tôi khống chế toàn bộ hàng binh. Phùng sư phó sai chúng tôi lùa lừa, ngựa, trâu bò xuống thuyền rồi xuôi giòng về đây. Bọn Dương Đại Uyển, Đặng Văn không có mặt trong trại. Chúng tôi bắt được hơn 300 tên cùng bộ tham mưu của y gốc Mông cổ. Chúng tôi phóng thích chúng, và nói rằng: trước đây Dương Đại Uyển, Đặng Văn làm khổ nhục kế hàng Mông cổ để chờ dịp phá Thát đát. Hàng binh Tống hầu hết vui vẻ đầu hàng. Phùng sư phó tổ chức được hai hiệu binh. Đang chuẩn bị dánh Đông sơn, Mi sơn.

Nói về vương phi Ý Ninh cùng Thúy Hồng mang đội Đại đởm của hiệu Văn bắc âm thầm di chuyển tới trại Thanh thần. Chỉ còn hơn hai dặm thì phi cho phục binh trong khu cỏ rậm.

Phi ban lệnh:

– Khi trong trại có tiếng reo thì chúng ta xông vào dốt lửa lên cho Đô thống Trần Nhị đem Quân đoàn Khâu Bắc, từ sau trại đánh vào.

Thúy Hồng leo lên một cây cao nhìn vào trại địch. Một khắc rồi hai khắc trôi qua. Thình lình trong trại có trống báo động lẫn với tiếng quát tháo:

– Phản! Bọn lao binh phản.

Rồi tiếng gươm đao chạm nhau, tiếng la hét. Đèn duốc sáng rực. Phi cho hai Đại đởm lên trước dò đường. Lát sau hai người trở lại với hai lao binh. Lao binh báo:

– Đám quân có nhiệm vụ canh gác đêm được lệnh ăn cơm trước. Khi ăn xong thì lăn ra ngủ mê man. Thế là kế hoạch bị lộ. Toàn trại báo động, bắt bọn lao binh tra khảo. Chúng khai hết. Đặng Văn truyền giết sạch lao binh. Báo động. Hiện chúng đang điều quân tuần tiễu. Chúng sắp tới bây giờ.

Vương phi quyết định:

– Thúy Hồng sai chim ưng báo cho Địa Lô biết, nếu bị lộ chúng ta rút về phía Nga biên. Cần phải có tín hiệu, tránh ngộ nhận. Đội Đại đởm đi cản hậu.

Đội quân tuần tiễu đã tới. Lao binh chỉ tướng đi đầu:

– Y là Đặng Văn đấy.

Đặng Văn cỡi ngựa đi trước, phía sau là một bách phu, tất cả đều mang đoản đao. Bách phu đi qua khu ẩn thân của đội Đại đởm, mà không khám phá ra.

Thúy Hồng hỏi Ý Ninh:

– Mình phải làm gì bây giờ? Tiến lên thì không được, rút về thì chẳng hóa ra đi không, về không ư?

– Ta chặn đường về của Đặng Văn. Ta báo cho kị binh của Địa Lô. Lô xin Cao San diệt bọn Đặng. Khi Dương Đại Uyển thấy có cuộc giao chiến giữa Vũ Cao San với Đặng, tất y mở cửa trại đem quân tiếp viện. Ta nhân đó tràn vào trại y, rồi đốt lửa cho Trần Nhị tấn công từ sau trại.

Thúy Hồng viết thư cho Địa Lô, sai chim ưng mang đi rồi leo lên ngọn cây quan sát. Nàng nói vọng xuống:

– Kị binh đang tới. Mỗi kị mã mang một cây đuốc. Bọn Đặng Văn cũng đốt đuốc lên, dàn ra trên một khu đất.

– Kị binh đã tao ngộ với bọn Đặng Văn. Hai bên đang nói truyện với nhau.

– Kị binh bao vây bọn Đặng Văn, tịch thu vũ khí.

– Ái chà! Kị binh xung vào giết binh sĩ của Đặng Văn.

– Đặng Văn phi ngựa chạy về phía ta cùng với 2 kị mã.

– Kị binh đuổi theo Đặng Văn. Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc phi ngựa dẫn đầu kị binh Mông Cổ.

– Đặng Văn với hai kị mã quay lại tấn công Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc với Địa Lô. Ái chà võ công bọn Đặng Văn quá cao. Vũ, Trần bị văng mất đao, phải lui lại. Đặng cùng hai kị mã tiếp tục chạy.

Phi ra lệnh cho Đại đởm:

– Bắt sống tên Đặng Văn.

Toán Đại đởm lấy dây chăng ngang đường, lại vần mấy tảng đá ra giữa đường, chờ đợi. Mê Linh kiếm trận chuẩn bị.

Hai kị mã phi ngựa trước, Đặng Văn phi sau.

– Rầm!

Hai kị mã, ngựa bị vướng dây, ngã lộn đi. Cả hai phản ứng rất nhanh, vọt mình lên cao, bị Đại đởm tung dây thòng lọng chụp vào người, rồi xông ra đè xuống trói lại. Đúng lúc đó Đặng Văn phi tới. Phản ứng thần tốc, y gò cương cho ngựa dừng lại. Con ngựa hý lên một tiếng lớn, cất cao hai vó trước. Trong bóng đêm lờ mờ, y quát:

– Các người là ai?

Một Đại đởm trả lời:

– Là Cấm quân Mông cổ, bắt bọn phản tặc.

Đến đó có tiếng quân reo, rồi đuốc sáng rực, quân trong trại Thanh thần ào ào xuất trại, vây kín một vùng.

Vương phi Ý Ninh ra lệnh:

– Lập thành trận Tứ thiết.

Toán Đại đởm cùng đội Mê linh kết thành trận. Dương Đại Uyển hỏi Đặng Văn:

– Tình hình ra sao?

– Không biết lý do nào, kị binh Mông cổ từ Đông sơn tới bao vây chúng tôi, rồi nói rằng chúng ta làm phản. Bách phu của tôi bị giết hết. Chỉ có ba người chạy thoát đến đây thì 2 người bị bắt .

Đại Uyển quát lên:

– Các người là ai?

Sợ Ý Ninh nói tiếng Thục không chuẩn, Thúy Hồng vận công cho tiếng khàn khàn giống tiếng đàn ông:

– Quân tướng nghe đây! Chúng ta là đội Cấm vệ của Đại hãn. Đại hãn được tin bọn Dương Đại Uyển làm phản, nên người sai chúng ta đi bắt y đem về trị tội. Kị binh đang tới. Trừ Đại Uyển, Đặng Văn, còn ngoài ra, tất cả vô tội. Hãy buông vũ khí đầu hàng

Đại Uyển ngửa mặt lên trời than:

– Oan uổng! Oan uổng! Khi Đại hãn mang quân vào Tứ xuyên, tôi đem tất cả binh tướng, thành trì, theo gió mà đầu hàng. Nay bỗng nhiên tôi bị vu oan vô lý thế này sao?

Thúy Hồng xua tay:

– Đại hãn hiện ở Đông sơn, mời tướng quân tới yết kiến người.

Đến đó kị binh của Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc tới. Địa Lô nói lớn bằng tiếng Hán vùng Thục:

– Chư quân nghe đây! Đại Hãn được tin Dương Đại Uyển, Đặng Văn làm phản. Chúng âm thầm chở tất cả 50 thuyền lương đưa về Giang an cho Tống. Chúng đã cho cánh quân Nga biên tiến về đánh úp Mi sơn. Ngày mai chúng sẽ dẫn quân Tống từ Giang an về đây rồi tiến về chiếm Thành đô. Vì vậy Đại Hãn ban mật chỉ cho chúng ta tới kiềm chế chúng. Các người nguyên là binh tướng Tống đầu hàng. Các người vô tội. Các người hãy bỏ vũ khí. Sáng mai các người muốn theo Đại Hãn thì vẫn được trọng dụng. Còn như các người muốn trở về với gia đình thì Đại hãn cũng chuẩn cho.

Đám binh tướng của Đại Uyển, Đặng Văn nguyên là binh tướng Tống, bị Uyển, Văn ép hàng Mông cổ. Tất cả 5 vạn người. Từ hôm theo Mông cổ đánh lại quân Tống ở Đông sơn, Nga biên chết quá nhiều. Một số rã ngũ. Bây giờ thấy Đặng Văn, Đại Uyển bị kị binh, Cấm vệ bắt về tội phản Mông Cổ theo Tống. Chúng ngơ ngác, không hiểu gì.

Vũ Cao San xua kị binh tràn vào trại. Trong trại đuốc đốt lên sáng rực. Trần Mạnh Quốc lệnh cho kị binh tước vũ khí đám quân của Đại uyển, rồi cho tập họp lại. Bọn Bách phu trưởng, Thiên phu trưởng gốc Mông cổ không chịu nộp vũ khí. Chúng tập trung lại. Một Thiên phu trưởng hỏi:

– Chúng ta là người Mông cổ. Chúng ta trung thành với Đại Hãn. Chúng ta không phạm tội, nên không nộp vũ khí.

Địa Lô nói tiếng Mông cổ:

– Các huynh không khuất phục là tùy các huynh.

Dương Đại Uyển, Đặng Văn bị trói để trước hàng quân. Địa Lô vận sức nói lớn bằng tiếng Hán vùng Thục:

– Chư tướng sĩ nghe đây! Tôi là mật sứ Cáp Thiết Mật Hoa, thuộc Cấm quân cạnh Đại hãn. Đại hãn nhận được tin Dương Đại Uyển phản Đại Hãn, trở về với Tống. Y âm thầm liên lạc với Đô đốc Giang An là để đánh úp Thành đô. Y đã cho chân tay chở 50 thuyền lương thảo về Giang an trao cho Tống. Y dự trù sáng mai đem chư quân cùng với đạo quân Nga biên thình lình kéo về Thành đô. Vì vậy hai vạn phu trưởng kị binh được lệnh khống chế y. Còn chư tướng thì vô tội.

Đại Uyển than:

– Oan uổng! Oan uổng! Xin cho tôi gặp Đại Hãn hoặc thân vương Mật Lý Hỏa Giả.

Trần Mạnh Quốc quát:

– Chứng cớ rành rành ra mà người còn chối tội ư? Đoàn thuyền 50 chiếc chở lương người đã cho khởi hành đi Giang an rồi. Được! Sáng mai ta sẽ cho người yết kiến Đại Hãn.

Địa Lô tiếp:

– Chư quân! Các người đều là người Thục. Vậy sáng mai, các người muốn về với gia đình thì ta cũng thuận cho.

Đến đó Trần Mạnh Quốc, Vũ Cao San truyền kị binh rút lui. Vương phi Ý Ninh sai đốt pháo lệnh, quân của Trần Nhị reo hò tràn vào trại. Đám hàng binh Thanh thần không còn vũ khí trong tay, không người chỉ huy. Chúng ngơ ngác không hiểu gì, thì bị bao vây tập hợp vào một khu.

Đám tướng sĩ Mông cổ thấy một đoàn quân trang phục như quân Tống, thì hè nhau tấn công. Nhưng chúng chưa kịp ra tay thì bị hai đội Mê linh kiếm trận bao vây. Không đầy một khắc, chúng bị bắt hết.

Vương phi Ý Ninh ban lệnh:

– Chuyển tất cả lương thảo xuống thuyền.

Hai chục con thuyền lớn ghé vào phía sau trại Thanh thần. Trần Nhị lệnh cho hàng binh Thanh thần chuyển hết vũ khí lương thực xuống, rồi hạ lệnh cho quân đoàn Khâu Bắc bao vây đám hàng binh.

Dã Tượng với toàn bộ hiệu binh Văn Bắc đã tới. Quân khí hùng tráng. Họ kéo cờ Tống, trang phục như quân Tống.

Từ đầu đến cuối Dương Đại Uyển, Đặng Văn thấy đám người của vương phi Ý Ninh trang phục khác thường, y cũng hơi nghi. Nhưng khi thấy Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc xuất hiện với kị binh, y mới tin. Bây giờ y thấy một đạo quân trang phục giống quân Tống, mà binh tướng nói một thứ tiếng rất lạ. Y kinh hoàng hỏi Địa Lô:

– Mật sứ Cáp Thiết Mật Hoa! Thế này là thế nào?

Địa Lô cười lớn:

– Quân hầu đừng nóng nảy. Lát nữa gặp Đại Hãn, quân hầu sẽ biết rõ!

Sáng hôm sau, giờ Mão (7 giờ sáng ngày nay), ba con thuyền lớn cập bến: Vũ Uy vương, Đô đốc Giang an Triệu Tử Minh cùng bộ tham mưu lên bờ.

Trướng được thiết lập.

Vương phi, Địa Lô tường trình tình hình.

Đại Uyển thấy khác lạ thì y kinh hoàng, nói với Đặng Văn:

– Dường như chúng ta bị trúng kế của bọn Vương Kiên rồi thì phải.

Đại đởm giải Đại Uyển, Đặng Văn vào trướng. Hai người thấy Đô đốc Giang an là Triệu Tử Minh cùng ngồi cạnh Vũ Uy vương thì chột dạ. Vũ Uy vương đứng dậy vái y, nói bằng tiếng Hán vùng Thục:

– Dương quân hầu! Mừng cho quân hầu dùng khổ nhục kế hàng Mông cổ thành công. Bây giờ quân hầu lại trở về với Đại Tống.

Địa Lô thấy Đại Uyển, Đặng Văn ngơ ngơ ngác ngác thì phì cười. Tử chỉ vào Vũ Uy vương:

– Dương quân hầu! Tôi giới thiệu với quân hầu, vị này là Hành sơn vương lĩnh Bình Tây đại tướng quân nhà Đại Tống. Vương tuân chỉ triều đình mang 5 vạn quân viện cho mặt trận Thục. Vương gia vừa giá lâm đất Thục, quân hầu đã sai sứ tới, xin đem toàn bộ binh mã trở về với Đại Tống. Quân hầu tình nguyện đi tiên phóng giải phóng Thành đô. Quân hầu lập công đầu là chở 50 vạn hộc lương về Giang an. Nay sự đã thành. Tống triều sẽ phong quân hầu lên tước Công, và kiêm nhiệm chức Tổng trấn Ích châu, Thành đô.

Đặng Văn hỏi Dương Đại Uyển:

– Dương hầu! Cái vụ này ra sao? Rõ ràng hai tướng kị binh Mông Cổ bắt chúng ta, nói rằng giải đến Đại Hãn, rồi sao lại biến thành Tống?

– Hai tên Vạn phu đó là người Tống, giả làm tướng Mông Cổ. Chúng ta bị lừa rồi.

Đặng Văn tỏ vẻ bất khuất:

– Hành sơn vương, Bình Tây đại tướng quân. Văn mỗ không may bị trúng kế của vương gia. Chứ đường đường xung trận, đấu võ, vương gia không thể thắng mỗ.

Phùng Tập cười ha hả:

– Người từng là đại tướng quân, người phải biết câu: phàm việc ra quân trước dụng mưu, sau dụng binh chứ? Vương gia vừa xuất binh, đã phá tan 5 vạn binh của các người, lại bắt người như bắt ba ba trong rọ, thu năm mươi vạn hộc lương, mà không hao binh, tổn tướng gì cả. Mi than cái gì?

Đô đốc Giang an cùng Địa Lô ra ngoài phủ dụ, chiêu hàng các tù binh nguyên là tướng sĩ Tống.

Vương phi đưa mắt nhìn Thúy Hồng. Phi định nói với Hồng:

– Em cần đấu võ với tên này, cần đánh bại y trước hàng quân Tống, thì mới mong họ nể phục.

Thúy Hồng vận Mật tông diệu pháp, hiểu Ý Ninh muốn gì. Nàng bước ra:

– Dương tướng quân xung sát cả đêm mệt mỏi lắm rồi. Xin vào trong nghỉ ngơi.

Nói rồi nàng bước tới tay đỡ vai Dương Đại Uyển, nàng phóng Mật công vào Đốc mạch, chuyển tới huyệt Á môn, khiến y không mở miệng được rồi nhắc lên đem ra sau trướng.

Thấy vậy, Đặng Văn tin rằng Dương Đại Uyển trở giáo về với Tống thực. Y chửi đổng:

– Đồ phản phúc.

Đến đó quân vào báo:

– Có Tổng trấn tứ xuyên Vương Tiết độ sứ xin cầu kiến.

Vũ Uy vương, vương phi, Triệu Tử Minh, Dã Tượng, Hoa sơn ngũ hiệp cùng ra đón. Vương Kiên trong y phục Nho sĩ cùng phu nhân là Minh Anh mặc võ phục. Lại có cả Kiêu kị đại tướng quân Nguyễn Lập, Kim Sơn tam kiệt. Cả đoàn thấy Vũ Uy vương, vương phi , Dã Tượng thì mừng chi siết kể. Tất cả cùng hành lễ:

– Tên hủ nho Vương Kiên cùng vợ, hôm nay lại được bái kiến một đại anh hùng Nam phương, thực tam sinh hữu hạnh.

Mọi lễ nghi tất.

Đô đốc Giang an Triệu Tử Minh tường trình tình hình Đại Việt quân viện ra sao. Trận đánh thế nào cho Vương Kiên nghe.

Vương Kiên mừng đến chi siết kể:

– Trước hết tôi xin chuyển chỉ dụ của triều Tống tới Phùng sư phó, 18 vị sư phụ đệ tử của Thiên Phong bồ tát, cũng như tất cả các chiến sĩ của hiệu binh Thiệu hưng. Các vị tuy ở hoàn cảnh khác nhau, nhưng không quên cái gốc Hán tộc của mình, bỏ gia đình, bỏ thú vui, mà về Trung thổ bảo vệ đất tổ Tam hoàng, Ngũ đế để lại. Các vị thực là những người đầy tâm huyết với đất nước.

Ông nói với Vũ Uy vương:

– Tôi xin thay mặt Tống triều, thay mặt tộc Hán đa tạ Hoàng đế cùng triều đình Đại Việt đã binh viện, để Tống tồn tại. Tôi xin đa tạ Vũ Uy vương, vương phi cùng chư vị tướng sĩ Đại Việt đã xuất lực cứu viện chúng tôi.

Ông nói với Vũ Uy vương:

– Khi vương gia chưa tới, phía trước tôi bị Mông Ca trấn áp. Phía phải bị Mật Lý Hỏa Giả thúc vào sườn. Phía trái bị Dương Đại Uyển đe dọa. Lương thực gần bị tuyệt. Bây giờ thì Mông Ca tiến lên, mà phía sau là Thành đô bị đe dọa, hông phải bị đạo Giang an ép. Lương thực khó khăn.

Địa Lô với Triệu Tử Minh đã phủ dụ xong đám hàng binh Tống. Tử đem Đặng Văn ra trước hàng quân, rồi giới thiệu Vương Kiên với y. Vương Kiên cười nhạt:

– Phải chăng người là Đặng Văn? Chắc người biết ta là ai rồi nhỉ!

– Đúng vậy! Còn người là tên hủ nho Vương Kiên, tổng trấn Ích châu đó sao?

– Người từng lĩnh Tổng trấn Thành đô nhà Đại Tống! Chức có, tước có. Khi Mật Lý Hỏa Giả đem quân đánh Thành đô, thay vì người xả thân chống giặc tận trung báo quốc, thì người lại cùng Dương Đại Uyển đem toàn bộ binh mã, thành trì theo giặc. Theo giặc chưa đủ, người còn đem quân đánh một giải phía Tây, phía Nam Thành đô. Bây giờ người tính sao đây?

Mặt Đặng Văn xám như tro:

– Tiếc thay ta có bản lĩnh vô địch, tài dùng binh không thua ai, nhưng ta giận vị bị tên Dương Đại Uyển lừa mà ra nông nỗi. Ta chết nhưng không phục.

Vương phi Ý Ninh cố uốn lưỡi nói giọng Lâm an tay chỉ vào Vũ Uy vương, Phùng Tập, Dã Tượng với Thúy Hồng:

– Này Đặng tổng trấn. Người tự thị anh hùng vô địch. Vậy ở đây chúng ta có năm người, một là vương gia, hai là Phùng sư phó, ba là Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân Dã Tượng, bốn là Trang văn, Hồng anh công chúa, năm là ta. Nếu người thắng được một trong chúng ta. Vương gia sẽ tha cho người về với Mông Cổ.

Thúy Hồng vận Mật tông công, thấy Đặng Văn nghĩ thầm:

– Cái tên vương gia này có lẽ võ công cao lắm. Lão đạo sư kia thì công lực e không tầm thường. Cái tên khổng lồ kia thì ta nên tránh y. Mình không nên đấu với ba tên này. Còn hai con nhỏ xinh đẹp, sức lực làm bao? Mình đấu với chúng thì chắc ăn.

Đặng Văn chỉ vào Ý Ninh, Thúy Hồng nói:

– Trong hai vị, mỗ muốn đấu chưởng. Không biết vị nào sẽ dậy dỗ cho mỗ mấy chiêu?

Triệu Tử Minh không tin rằng võ công của vương phi Ý Ninh hay Thúy Hồng đủ sức đấu với Đặng Văn. Ông muốn cản trở Ý Ninh, Thúy Hồng mà không dám lên tiếng. Ông đưa mắt nhìn phu nhân của Vương Kiên là Minh Anh . Minh Anh biết ý Triệu. Bà nói:

– Xin giới thiệu với vương phi Hành sơn, và Trang văn, Hồng anh công chúa. Đặng tướng quân có ngoại hiệu là Quan trung vô địch thần quyền.

Minh Anh tưởng giới thiệu như thế thì Ý Ninh, Thúy Hồng sẽ rút lui. Không ngờ Thúy Hồng bước ra, nàng nói tiếng Hán vùng Lâm An:

– Tôi xin được lĩnh mấy chiêu của Vô địch thần quyền.

Địa Lô phất tay, chiêng trống khua vang lừng ba hồi. Chiêng trống dứt, Tử nói lớn:

– Chư quân tướng nghe đây. Đặng Văn từng là Tổng trấn Thành đô, tước phong của nhà Đại Tống, mà ép chư quân đầu Mông cổ, tội đáng tru di tam tộc. Bây giờ y bị bắt. Y cho rằng y bị trúng kế, bất phục. Vương gia cũng như Tiết độ sứ cho y một cơ hội: nếu y thắng được một trong năm người. Một là Hành sơn vương, hai là Phùng sư phó, ba là Tả thiên ngưu vệ đại tướng quân, bốn là vương phi Hành sơn, năm là Trang văn hồng hạnh công chúa; thì sẽ được phóng thích về với Mông cổ. Đặng Văn muốn được dấu với Trang Văn công chúa.

Thúy Hồng chắp tay vái dài, đó là chiêu hành lễ của phái Mê linh. Đặng Văn không coi Thúy Hồng vào đâu, y không đáp lễ, mà phóng một quyền vào ngực nàng. Thúy Hồng vận Mật công, đợi cho quyền phát ra hết, nàng lùi lại, xử dụng một chiêu trong Thiết kình phi chưởng của phái Mê linh, chụp quyền của y kéo mạnh. Một nội lực êm dịu hóa giải hết kình lực của Đặng, người y bị lôi về trước, khiến y lảo đảo như người say rượu.

Quân sĩ hò reo! Trống thúc vang dội.

Ngay chiêu đầu bị thất bại, Đặng quát lên:

– Võ công này không phải võ công của Trung thổ. Người là ai?

Y lại phát một chưởng, kình lực mạnh kinh khủng. Thúy Hồng cũng phát một chưởng dương cương trong Thiết kình phi chưởng. Hai kình lực gặp nhau phát ra tiếng bộp lớn. Cả hai cùng bật lui ba bước.

Dù sao thì Thúy Hồng cũng chưa có kinh nghiệm chiến đấu. Nội công của nàng là Mật công nhà Phật, có khả năng hóa giải tất cả các loại nội công hung dữ, nhưng dùng để tấn công đối thủ dùng dương kình thì thiếu dũng mãnh. Thành ra hai người đấu đến chiêu thứ 50 mà vẫn không phân thắng bại. Dã Tượng từng đánh dư trăm trận, kinh nghiệm có thừa. Bá dùng tiếng Việt nhắc vợ:

– Em phải dùng Đông A chưởng pháp, thình lình đổi sang Thiên la thập bát thức, rồi dùng các vị thế SƠN mới thắng được tên này.

Nghe chồng nhắc, Thúy Hồng lùi ba bước, phát chiêu Đông hải lưu phong. Đông hải lưu phong là một chiêu dũng mãnh trong Đông A chưởng pháp. Mà nội công Đông A phát xuất từ Thiền công. Giữa Thiền công với Mật công đều là nội công nhà Phật. Nên kình lực Mật công Thúy Hồng ào ào tuôn ra. Bình một tiếng, Đặng Văn bật lui liền bốn bước, kình lực bị mất tăm mất tích.

Quân tướng đều nín thở theo dõi trận đấu.

Đặng Văn ngẩn người ra tự hỏi:

– Võ công này dường như là võ công Thiếu lâm, nhưng sát thủ cực kỳ hung dữ.

Sau khi thắng một chiêu, Thúy Hồng di chuyển đến bên chồng, móc tay sau lưng Dã Tượng, lấy ra cái túi. Chân từ cung Ly vị trí Sơn thủy mông, bước sang cung Cấn, vị trí Sơn hỏa bí, tay vung lên, chài mở tung ra, chụp lên đầu Đặng Văn. Đặng Văn nào có biết gì về Thiên la thập bát thức? Tay y gạt chài, thì cả người y bị chụp vào trong. Kinh hoảng y cúi rạp người xuống, rồi trườn mình vọt lên cao. Ở trên cao, y đá gió một cái người bật ra xa.

Mới một chiêu đã thành công, Thúy Hồng từ vị trí Thiên phong cấu cung Càn, bước sang vị Sơn thủy mông cung Ly, tay vung chài lên. Thấy võ công đối thủ cực kỳ huyền diệu, sát thủ kinh nhân, Đặng Văn lại tung mình lên cao. Cứ thế Thúy Hồng xuất liền 18 chiêu, Đặng chỉ biết nhảy nhót tránh né. Y không trả lại được một đòn.

Hiện diện có Hoa sơn ngũ hiệp, Kim sơn tam kiệt, Phùng Tập cùng 18 vị đệ tử của Thiên Phong đại sư là những người từng trải giang hồ. Quan sát trận đấu, Hoàng Nương hỏi chồng:

– Em nghe Đại Việt có pho võ công Thiên la thập bát thức, cực kỳ kỳ diệu, có lẽ là pho võ công mà công chúa Thúy Hồng xử dụng đây. Nếu anh là Đặng Văn anh đối phó ra sao?

– Anh cũng chỉ tránh né như Đặng chứ không hơn được. Anh nghe nói trong trận đấu tại điện Quang minh, thành Yên kinh, công chúa Lý Như Lan cũng dùng pho võ công này bắt sống nữ tướng Trần Hy Hà của Mông cổ.

Đến chiêu thứ 19, Thúy Hồng từ vị Trạch sơn đàm cung Đoài bước sang vị Sơn hỏa bí , cung Cấn, tay vung chiêu Ngư tại giang cùng thì chài chụp Đặng Văn vào trong. Y bị các viên chì đánh trúng huyệt Kiên ngung, Đại bào. Người y tê liệt hoàn toàn. Thúy Hồng phóng một chỉ điểm thêm huyệt Đản trung của y. Y nằm gọn trong chài.

Một Đại đởm bước tới gỡ y ra khỏi chài, rồi nhắc y để trước mặt Vương Kiên. Người có chưởng lực mạnh nhất trong Hoa sơn ngũ hiệp là Bạch Sơn hỏi Đặng Văn:

– Đặng Tổng trấn! Người có còn tự thị là vô địch thần quyền nữa không?

– Ta vẫn không phục. Không phải công lực ta thua cô công chúa này, mà vì cái pho võ công của công chúa ảo diệu hơn võ công của ta. Ta thua vì tài trí tổ tiên ta thua tài trí của cô công chúa này mà thôi. Ta uất ức vì không biết võ công của đối thủ là võ công gì?

Sợ Vương Kiên giết Đặng Văn, Thúy Hồng nói:

– Vương Tiết độ sứ, đây là một thiên tài võ học, giết đi thực uổng phí. Xin Tiết độ sứ mở cho Đặng tổng trấn một con đường trở về với Tống.

Triệu Tử Minh chỉ mặt Đặng Văn:

– Công chúa không biết đấy thôi! Khi phản Tống, y đem quân đánh chiếm vùng Nam Tứ xuyên, y từng giết mấy chục tướng Tống cùng là đồng liêu với y.

Vương Kiên ban lệnh:

– Hãy giam y lại. Ta dùng y đổi lấy mấy tướng bị Mông cổ bắt trong thời gian qua.

Tại hành dinh. Một cuộc họp hỗn hợp Tống Việt được tổ chức. Tiết độ sứ Vương Kiên, Vũ Uy vương ngồi trên bàn chủ tọa. Các tướng Tống, Việt theo thứ tự ngồi dưới. Vương Kiên quyết định:

– Quân tại Nga biên, Thanh thần bị bắt làm tù binh, nguyên là quân Tống, bị Dương Đại Uyển lừa, ép theo Mông cổ. Bây giờ 5 vạn chỉ còn 3 vạn, ta tập trung họ lại, lấy dân binh bổ xung, tái lập các hiệu binh Thành đô, Dương bình quan, Kiếm các, Cẩm dương, Phổ khách. Còn tướng thì sao đây?

Dã Tượng từng sống cạnh Hoa sơn ngũ hiệp lâu ngày. Bá đề nghị:

– Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Tôi biết Hoa sơn ngũ hiệp không thích công danh ràng buộc. Nhưng cấp thời không có người, tại sao Ngũ hiệp không đảm trách tạm chỉ huy năm hiệu binh này?

Hoàng Hiệp lắc đầu:

– Những binh, tướng năm đạo binh này bị ép theo Mông cổ, rồi bây giờ trở về với Tống, thần trí rất dao động. Nay được tái lập để đánh nhau với Mông cổ là quân thiện chiến, cần có tướng kinh nghiệm mới đủ khả năng chỉ huy. Anh em chúng tôi võ công cao, nhưng chưa từng cầm quân, mà chỉ huy 5 hiệu binh này khi đối trận với Mông cổ thì cái thất bại đã thấy trước rồi. Tôi nghe nói các tướng của hiệu binh Thiệu hưng là võ lâm người Hán bị ép theo Ngột Lương Hợp Thai sang Đại Việt, từng được đào tạo rất kỹ, được học Binh thư yếu lược, Vạn kiếp tông bí truyền thư. Thế mà Đại Việt chỉ cho là phó, còn chánh tướng là tướng Đại Việt kinh nghiệm chiến đấu. Từ hôm vào Ích châu, các tướng Hán ấy chỉ huy tỏ ra thành thạo, như những tướng kinh nghiệm. Vậy tại sao không để các tướng Đại Việt tiếp tục chỉ huy hiệu Thiệu hưng. Còn các tướng người Hán ấy chỉ huy 5 hiệu binh Ích châu?

Vũ Uy vương vui vẻ:

– Lời bàn của Hoàng Hiệp thực phải lẽ.

Vương Kiên vui lòng, chấp nhận. Thế là bộ tham mưu của Ích châu rời cuộc họp, để tổ chức lại 5 hiệu binh Ích châu.

Vương Kiên lên tiếng:

– Từ khi đem quân vào Thục, Mông ca thắng như chẻ tre. Vừa rồi y định cho bọn Hán gian Dương Đại Uyển, Đặng Văn với một Vạn phu kị binh, mưu đi theo Dân giang đánh Giang an, cắt đôi Ích châu. Nhờ Đại Việt tiếp viện, bọn Đại Uyển thất bại. Hông phải của Mông ca bị uy hở. Vậy bây giờ chúng ta phải hành động như thế nào?

Phùng Tập đề nghị:

– Trước khi dánh Nga biên, Thanh thần. Vũ Uy vương đã định kế: ta thừa thắng theo Dân giang, tiến lên Nga biên, Thanh thần chiếm Đông sơn, Mi sơn rồi tái chiếm Thành đô. Như vậy những thành trì phía Nam Ích châu mà Mông Cổ mới chiếm ta chỉ trở tay là chiếm lại được.

Vương Kiên tỏ ý khen ngợi:

– Hiện hai cánh quân Mông Ca, Mật Lý Hỏa Giả quay lưng lại Thành đô, đang tiến về phía Đông. Nay sau lưng bị ta uy hiếp. Như vậy bắt buộc Mông Ca phải rút về cứu Thành đô. Có thể chính y rút về. Cũng có thể y rút cánh quân của Mật Lý Hỏa Giả. Như vậy Hợp châu được giải vây.

Đại Đởm đại tướng quân đề nghị:

– Khi ra quân, điều tối quan hệ là lương thảo. Lương thảo tuyệt thì quân tự tan. Kìa Ngột Lương Hợp Thai xua quân vào Đại Việt như hùm như hổ, chỉ vì Vũ Uy vương tuyệt lương thảo của y mà y bị đánh bại. Nguồn lương của Mông Ca có hai: một là từ Trường an chuyển tới. Hai là kho lúa Ích châu. Kho lúa Ích châu chủ yếu là vùng lưu vực Dân giang, và vùng Bồ lăng lưu vực Trường giang. Cho nên Mông Ca dồn hết lực lượng chiếm Hợp châu, Giang an. Hợp châu do chính Vương Tiết độ sứ trấn thủ, y dồn đại quân đánh suốt mấy tháng qua. Còn vùng Dân giang y dùng bọn Dương Đại Uyển chiếm lấy. Nhưng bị ta đoạt lại. Như vậy y chỉ còn trôâng vào lương thực vùng Trường an tiếp tế mà thôi. Tôi đề nghị: mặt trận Hợp châu xin Vương Tiết độ sứ giữ vững. Mặt trận Dân giang xin để cho Vũ Uy vương thừa thắng tiến về chiếm Thành đô. Còn đường tiếp tế từ Trường an, tôi xin đảm trách đánh cảm tử tại Kiếm các, Dương bình quan. Như vậy trong một tháng 40 vạn Mông Cổ sẽ bị chết đói.

Chư tướng vỗ tay hoan hô. Vương Kiên thở dài:

– Ở Ích châu xa xôi này tôi từng nghe đại danh Đại đởm đại tướng quân, nay nghe lời nghị luận quả danh bất hư truyền. Nhưng tướng quân ơi! Hợp châu của tôi đang như ngọn đèn trước gió. Binh tướng không quá 3 vạn mà phải chịu 10 vạn binh tinh nhuệ của Mông Ca công phá ngày đêm. Không biết chúng tôi có giữ nổi nửa tháng nữa không?

Vũ Uy vương quyết định:

– Xin Tiết độ sứ trở về giữ vững Hợp châu, để tôi đánh chiếm Thành đô. Liệu Tiết độ sứ sẽ giữ được bao lâu?

– Tôi chỉ có ba hiệu binh Hợp châu, Bồ lăng, Điếu ngư. Kế cả thủy quân chưa quá ba vạn. Trong khi Mông Ca dùng tới 10 vạn kị binh. Tuy vậy trong binh pháp thì nếu một người thủ, cần tới 10 người công. Trong vòng một tháng thì được tôi chịu được.

– Vương Tiết độ sứ yên tâm, chỉ cần nửa tháng, tôi đã chiếm xong Thành đô rồi đem quân về Điếu ngư trợ chiến với Tiết độ sứ. Bây giờ thế này: Tôi cùng Đốc Giang an Triệu Tử Minh, đem bản bộ nhân mã, hai hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc, với 5 hiệu binh Thành đô, Kiếm các, Dương bình quan, Cẩm dương, Phổ khách tiến đánh Đông sơn, Mi sơn, chiếm Thành đô. Chúng tôi uy hiếp sau lưng của Mông Ca, Mật Lý Hỏa Giả. Chỉ trong một tháng chúng tôi sẽ chiếm được Thành đô, để Mông Ca phải rút quân về cứu phía sau. Như vậy Hợp châu được giải vây.

Vương Kiên hỏi Nguyễn Thiên Sanh:

– Việc chặn đánh đường tiếp tế lương thảo do Đại Đởm đại tướng quân, phụ trách. Xin Đại tướng quân cho biết kế hoạch! Đại tướng quân cần bao nhiêu quân?

– Theo tin tức của Đô đốc Giang an, thì mỗi đoàn vận lương của Mông Cổ gồm 200 xe. Mỗi xe chở khoảng 20 hộc gạo (hộc= 100kg), có một bách phu hộ tống. Muốn đánh một đoàn xe như vậy, chúng tôi không cần quân đông, mà cần nhiều cao thủ. Xin cho tôi mượn 18 đệ tử của Thiên Phong đại sư, 100 cao thủ võ lâm Trung nguyên, hai đội kiếm trận Mê linh.

Vũ Uy vương hài lòng:

– Vậy Tiết độ sứ cấp cho Đại Đởm đại tướng quân mấy hướng đạo. Vì đường từ đây đi Kiếm các, Dương bình quan phải qua nhiều núi non hiểm trở, nhiều khu đóng quân của Mông cổ.

Có Ưng binh vào trình cho Vũ Uy vương một ống đựng thư. Vương mở ra đọc, thư của Đại Hành:

“ Khải vương gia,

Sau hơn tháng công thành Điếu ngư thất bại, Mông Ca cho quân nghỉ 10 ngày.

Mông Ca được tin Tống gửi Hành Sơn vương đem 5 vạn quân cứu Ích châu. Dương Đại Uyển hàng Tống, đem 50 vạn hộc gạo trao cho Tống. Mông Ca cũng được tin Hành sơn vương đang tiến quân về Thành đô. Mông Ca muốn bỏ Hợp châu về cứu Thành đô. Nhưng các tướng khuyên phải tiến chiếm lưu vực sông Trường giang, uy hiếp vựa lúa Ích châu hơn giữ Thành đô. Mông Ca đang thảo kế hoạch đánh Điếu ngư như sau:

– Một là bỏ ngỏ Thành đô mặc cho các tướng người Hán, dùng quân Hán chống với viện quân Hành Sơn vương.

– Hai là dùng bộ binh, kị binh chia làm ba đạo thay nhau vây Điếu ngư. Mỗi đạo vây một ngày. Đợi cho quân thủ thành mệt mỏi, thì sai sứ vào chiêu hàng.

– Ba là, nếu Vương Kiên đầu hàng thì sẽ được phong tước công, trao cho tổng trấn Ích châu. Rồi Mông Ca tập họp hàng binh, tổ chức thành mười vạn phu, xuôi Trường giang đánh Kinh châu, Hồ Nam. Nhược bằng Vương Kiên không hàng, thì vây Điếu ngư cho đến khi hết lương, thì thành bị hạ.

Có tin tức gì thần sẽ báo sau”.

Vũ Uy vương trao thư cho Vương Kiên đọc. Kiên mừng vô hạn:

– Mông Ca, không đem quân cứu viện Thành đô, vậy đạo binh Thiệu Hưng, Văn Bắc sẽ không gặp lực lượng hùng mạnh. Ta chiếm Thành đô rồi thì một giải phía Tây, phía Nam, ta chiếm lại dễ dàng.

Vương Kiên đưa mắt hỏi ý kiến Vũ Uy vương:

– Còn Hợp châu! Vương gia định sao?

– Vị trí của thành Điếu ngư nằm trên đồi. Hai mặt Nam và Đông là sông, hai mặt Bắc và Tây là đất bằng. Quân của Mông Ca là quân kị. Mông Ca chỉ có thể tấn công vào hai mặt Bắc và Tây mà thôi. Thành Điếu ngư nhỏ quá, mà quân số của ta tới ba hiệu binh. Như vậy khi bị bao vây lâu, sẽ không đủ lương ăn. Tôi đề nghị Tiết độ sứ chỉ để lại một hiệu Điếu ngư là đủ, còn hai hiệu thì tạm rút về Bồ lăng, Giang an. Như vậy ta cố thủ được lâu. Sau khi chiếm Thành đô, tôi sẽ đem hai hiệu binh Thiệu Hưng, Văn Bắc đánh vào sau lưng Mông Ca. Tiết độ sứ chờ Mông Ca lui binh, thì đem hai hiệu từ Bồ lăng, Chiêu thông, cùng hiệu Điếu ngư đuổi theo. Thế là Mông Ca bị ép đầu, đuôi. Tôi viện cho Tiết độ sứ Văn Bắc thượng tướng quân Địa Lô với hai vệ Nỏ thần, hai vệ Lôi tiễn, hai vệ Ngạc ngư để giữ thành.

Tiết độ sứ Vương Kiên cùng Địa Lô đem hai Vệ nỏ thần, hai Vệ lôi tiễn hai Vệ Ngạc ngư về tới thành Điếu ngư vào lúc trời tối. Vào trướng, chư tướng cùng tới. Phó Tổng trấn Ích châu TạÏ Phương Đắc báo cho biết: trong bẩy ngày Vương vắng nhà, quân Mông cổ không tới tấn công.

Địa Lô an ủi:

– Tạ quân hầu ơi! Chúng nghỉ mười ngày dưỡng quân. Còn ba ngày nữa chúng mới tái tấn công.

Nghe đến tên Tạ Phương Đắc, Địa Lô hỏi:

– Xin lỗi Tạ phó Tổng trấn. Hồi năm trước, khi theo sứ đoàn sang Yên kinh tôi từng nghe nhiều ca nhi ngâm những bài thơ trong Điệp sơn tập của Tạ Phương Đắc… Vậy thi tập này phải chăng của Phó Tổng trấn?

Vương Kiên hãnh diện:

– Thi sĩ Tạ Phương Đắc chính là Phó Tổng trấn của tôi.

Địa Lô lấy cây đàn cò (nhị) ra kéo, Ngọc Hồng lấy trống mảnh ra gõ. Địa Lô cất tiếng ngâm:

Tử quy đề triệt tứ canh thì,
Khởi thị tàm trù phạ diệp hy.
Bất tín lâu đầu dương liễu nguyệt,
Ngọc nhân ca vũ vị tằng qui.

(Chim Tử quy kêu suốt canh tư,
Giật mình thức giấc mà lá dâu ít, tằm thì nhiều.
Không tin rằng còn bóng trăng bên cây dương liễu ở bên lầu.
Người đẹp hái dâu đi ca múa chưa trở về).

Ngâm xong, Địa Lô biến sang điệu hát Xẩm. Giọng Địa Lô rất trong, vốn là người tài hoa, đến như Tô lịch thất Liên, Đông hoa ngũ tiên đều chịu thua. Kiêu kị thượng tướng quân Nguyễn Văn Lập cảm động:

– Tôi đã từng nghe hơn trăm người ngâm bài này, nhưng chưa thấy ai diễn tả được hết cái hồn thơ như tướng quân. Tướng quân thực xứng với danh hiệu Nam thiên đệ nhất tài tử.

Tạ Phương Đắc cảm động:

– Đa tạ nhị vị đã làm đẹp bài thơ của tôi.

Y chỉ Ngọc Hồng hỏi Địa Lô:

– Xin Lỗi Nam thiên tài tử, vị tiên nữ này là thế nào với tài tử?

Vương Kiên đáp thay:

– Là phu nhân của Văn Bắc thượng tướng quân đấy.

– Hỡi ơi! Phu nhân trẻ quá, mà nghệ thuật lại già dặn.

Ghi chú,

Tạ Phương Đắc tự là Quân Trực, hiệu là Điệp Sơn, người đất Tín châu (Giang Tây). Sinh năm thứ nhì niên hiệu Bảo Khánh đời Tống Lý tông (1226). Mất năm thứ 26 niên hiệu Chí Nguyên đời Nguyên thế tổ (1289). Đậu tiến sĩ niên hiệu Bảo Hựu thứ tư đời Tống Lý tông (1256). Có tài dùng binh, được phong hầu, được cử làm đồng trấn thủ Ích châu với Vương Kiên. Sau trận Điếu ngư về triều, đúng lúc tể tướng Giả Tự Đạo muốn dâng vàng, ngọc, lụa cho Hốt Tất Liệt để cầu hòa. Ông thống mạ Giả Tự Đạo, bị biếm ra đạo Hưng quốc quân. Năm 1270 mới được tha về triều. Niên hiệu Đức hựu nguyên niên (1275) được cử làm Đề hình Giang Đông, kiêm Tri Tín châu. Khi quân Nguyên tiến xuống Giang Đông, Tín châu thất thủ, ông đổi tên họ, ẩn tại núi Đường thạch, Kiến ninh. Tống mất, Nguyên Thế tổ nhiều lần mời ông ra làm quan, ông từ chối. Sau ông bị Tham chính Phúc kiến là Ngụy Thiên Hựu áp tải về Đại đô. Ông tuyệt thực chết. Tác phẩm để lại có Văn chương quỹ phạm, Điệp sơn thi tập.

Đề hình, tương đương với giám đốc Tư pháp, kiêm chánh án tòa án tối cao.
Tri châu,
tương tương với chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh.
Tham chính,
tương đương với phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, phụ trách hành chánh.

Chư tướng kinh ngạc khi nghe Địa Lô nói tiếng Hán vùng Ích châu rất chuẩn. Vương Kiên họp tướng sĩ, thông báo cho họ biết kế hoạch.

– Hiện lương thực chất ở Giang an gồm 50 vạn hộc gạo đoạt được trên sông Dân giang. Lương thu được trong trận đánh Nga biên, Thanh thần cũng gần 30 vạn hộc; ta không sợ thiếu lương.

– Thủy quân đang vận chuyển lương từ Giang an tới đây chứa đầy kho. Dù Mông cổ vây đến 3 năm, ta cũng còn lương.

– Hai hiệu binh sẽ rời khỏi thành về đóng tại Bồ lăng và Giang an làm thế ỷ dốc.

– Hai vệ Lôi tiễn, Nỏ thần được bố trí trên mặt thành. Hai Vệ Ngạc ngư bảo vệ mặt sông, nếu chúng dùng thủy quân tấn công vào mặt Đông, Nam.

Trong suốt ba ngày, Vương Kiên, Tạ Phương Đắc, Địa Lô xuất thành nghiên cứu địa thế quanh Điếu ngư.

Tạ Phương Đắc trình bầy:

– Khi Mông cổ tấn công thì chúng xua tù binh, bộ binh bắt được của Tống bắc thang leo lên mặt thành. Còn kị binh thì dàn phía sau, dùng cung tên bắn lên quân trấn thủ. Kiêu kị thượng tướng quân, Trung nghĩa hầu Nguyễn Văn Lập là vị tướng rất thiện chiến. Người dùng dùng gỗ, đá lăn xuống, thang bị gẫy, quân leo lên bị chết nhiều vô kể. Tinh lực tù hàng binh đã hết. Thành ra gần đây chúng chỉ bao vây rồi bắn đá vào thành.

Địa Lô hỏi:

– Thế phía Nam, Đông chúng không tấn công sao?

– Hai mặt này do thủy quân của chúng tôi trấn giữ. Mông cổ chỉ giỏi về kị binh. Còn Thủy quân thì chúng không có. Chúng dùng hàng binh Tống, đem một số dân thuyền tấn công, lập tức chúng bị thủy quân của tôi phá tan ngay.

Vương Kiên chỉ vào một khu đất bên sông, cách thành khoảng 10 dặm:

– Đây là khu Mông Ca dàn Cấm quân, khi y thân chinh đứng đốc chiến.

Nguyễn Văn Lập đề nghị:

– Nam thiên tài tử đem Lôi tiễn giúp chúng ta, thì cái mạng của Mông Ca lành ít dữ nhiều. Ta cứ nhắm chỗ y đứng mà nã Lôi tiễn thì giết y không khó.

Lập tỏ ra thích thú với tính tình nhu nhã của Địa Lô, với giọng nói tiếng Thục lơ lớ của Ngọc Hồng.

Tạ Phương Đắc nhắc:

– Cái tên Mông Ca này vốn nhát gan. Mỗi khi xuất trận, y dùng tới 5 bách phu Cấm quân hộ tống. Giữa mỗi bách phu y cho một Cấm quân mặc y phục giống y, giả làm y. Thành ra có tới 6 Mông Ca, rất khó biết Mông Ca nào là Mông Ca thực, Mông Ca nào là Mông Ca giả.

Địa Lô mỉm cười:

– Vũ Uy vương đã có cách tìm ra Mông Ca thực. Chúng ta chờ y công thành sẽ bắn đá, Lôi tiễn vào Mông Ca thực.

Buổi sáng có thư của Vũ Uy vương, do chim ưng mang tới:

“Đã chiếm được Mi sơn, Đông sơn. Đang họp quân tiến về Thành đô. Xin Vương Tiết độ sứ thả Dương Đại Uyển với Đặng Văn ra. Để khi chúng về với Mông Ca, sẽ khiến Mông Ca nghi ngờ tất cả hàng tướng Hán.”

Vương Kiên chắp tay hướng lên trời:

– Đa tạ trời đất. Vương gia đã thành công.

Quân báo:

– Có sứ giả của Đại Hãn Mông Ca tới cầu kiến.

Vương Kiên nói với Địa Lô:

– Xin tướng quân cùng tôi tiếp sứ. Rất mong tướng quân có cao kiến gì góp ý với tôi.

Sứ đoàn chỉ có hai người. Một người Hán là văn quan. Một võ tướng. Mới thấy võ tướng, Địa Lô dã giật mình, vì chính là Kim Đại Hòa, lĩnh chức Ưng phi tướng quân. Hiện chỉ huy đội Cấm vệ hộ tống Mông Ca. Kim Đại Hòa thấy Địa Lô ngồi bên Vương Kiên thì giật mình tự hỏi:

– Người này là một đấng tài hoa của Đại Việt, trước theo sứ đoàn Cao ly, nay sao lại ở đây? Hồi ở Yên kinh, người này là tình nhân của sư muội Như Lan. Mình phải tảng lờ như không biết gì.

Lễ nghi tất.

Vương Kiên là văn quan xuất thân, nên ông có phong thái của một nho sĩ, hơn là một tướng cầm quân. Ông truyền mời sứ đoàn ngồi, pha trà đãi khách. Ông nhỏ nhẹ:

– Không biết Đại Hãn sai tướng quân tới đây có việc gì?

Kim Đại Hòa nói bằng tiếng Hán vùng Yên kinh:

– Thưa Tiết độ sứ, Đại Hãn nghe Tiết độ sứ bắt được hai tướng của người là Dương Đại Uyển với Đặng Văn. Người muốn đem phó Tổng trấn Thành đô của Tống là Gia Huyễn Ông đổi lấy hai tướng này.

Vương Kiên cười:

– Cảm ơn thịnh tình của Đại Hãn. Nhưng Đại Hãn muốn đổi lấy hai tướng thì cũng phải đem hai người của chúng tôi ra chứ? Có đâu hai đổi lấy một.

Văn quan theo sứ đoàn đem ra một cuốn sổ trao cho Vương Kiên:

– Đây là danh sách tù binh mà chúng tôi giam. Vương tiết độ sứ muốn đổi người nào?

Vương Kiên đọc lướt qua rồi chỉ vào một hàng chữ:

– Đây, tôi muốn đổi lấy người này.

Viên văn quan kinh ngạc:

– Y là Chu Anh, giữ chức Thái úy của Đại lý. Dù Đại lý vương đã đầu hàng. Y tổ chức cần vương. Trong trận phục kích núi Thác sơn y bị bắt. Y đâu phải người của Tống?

Vương Kiên cười:

– Đại lý là phiên dậu của Tống, Chu Thái úy là quan chức của Đại lý thì cũng là quan chức của Tống.

– Vậy thì sáng mai chúng ta ra bãi đất ngoài thành, trao đổi tù binh.

Địa Lô hỏi Vương Kiên:

– Gia Huyễn Ông là người thế nào?

– Y quán tại Mi châu, Tứ xuyên, tự là Tắc Đường, xuất thân Tiến sĩ, bác học đa năng, có tài dùng binh. Lúc đầu làm Tham quân cho tôi. Sau nhờ có công được phong hầu, được cử làm Giám quân Thành đô. Khi bọn Đặng Văn hàng Mông cổ, y cương quyết không hàng. Mông Ca truyền giam lại.

Nghĩ ra một kế, Địa Lô nói với Vương Kiên:

– Tiết độ sứ quá bận rộn. Tôi xin được tiếp sứ thần.

Vương Kiên kinh ngạc, nhưng ông cũng gật đầu:

– Vậy thì tướng quân mời sứ đoàn ra căn lầu phía Đông, tôi sẽ cho làm tiệc đãi sứ đoàn.

Địa Lô tiếp chánh sứ. Vương Kiên để Tạ Phương Đắc tiếp phó sứ.

Vừa vào bàn, Kim Đại Hòa đã nói với Địa Lô bằng tiếng Cao ly: y thuật lại việc cũ, thái tử Điển kết hôn với công chúa Mạc Huệ Dĩ, rồi Như Lan bị làm nhục. Như Lan phẫn uất, giết Mạc Huệ Dĩ. Hiện giờ Thái từ Điển lên ngôi vua, phong Như Lan làm Nam thiên Linh từ Bảo quốc Hoàng hậu. Như Lan đang cùng Kiến Bình vương đem quân ra biên giới Mông Cổ hợp với Lý Đảm chống Hốt Tất Liệt. Nhưng Hốt Tất Liệt dồn hết lực lượng đánh Tống, nên chỉ để 10 vạn binh trấn thủ vùng biên giới Cao Ly, Sơn Đông mà thôi.

Nhớ lại một truyện, Địa Lô hỏi:

– Thế nào, huynh đã kết hôn với Ngọc Hạ chưa?

Đại Hòa thuật:

“ Cách đây mấy tháng, sư phụ Huệ Đăng với sư muội Như Lan tới, xưng là người nhà của Tuyên phi Thanh Liên, đem tin tức của gia đình từ Đại Việt sang. Sư phụ có dẫn theo ba thiếu nữ, nói rằng bố mẹ gửi sang để làm tỳ nữ cho phi. Ba cô đó đẹp chói chang, tươi như hoa, nhất là lúc cười ánh mắt đưa tình, như hút người đối diện. Tối hôm đó Đại Hãn phải đi duyệt quân tình tại Dương bình quan. Phi cho tổ chức tấu nhạc, ca hát cho binh tướng xem. Khi ba nàng xuất hiện, khán giả có hàng mấy ngàn, mà im phăng phắc, vì ba nàng đẹp quá. Tàn cuộc, phi tuyên gọi A Mít Lỗ Tề, Đi Mi Trinh với tôi tới ban cho dự tiệc cùng ba nàng. Rồi phi hỏi:

– Các em thấy ba cô gái này thế nào?

Ba cô mỉm cười, ánh mát nghiêng nghiêng, làm cả ba chúng tôi, chân tay như tê liệt, nói không ra lời. Phi nói:

– Năm trước tại điện Quang Minh ở Yên kinh, Vũ Uy vương phi có hứa hỏi vợ cho ba em phải không? Giữ lời hứa, nay phi gửi ba cô sang cho các em đây.

Nghe phi nói, chúng tôi mừng đến nghẹt thở. Phi bảo:

– Các em ơi! Tuy các em chỉ là một tướng thôi. Song các em giữ chức vụ tín cẩn là bảo vệ Đại Hãn. Nếu công bố ra ngoài rằng ba cô này do phi Ý Ninh gửi qua, e sẽ bị nghi ngờ. Vì vậy chị sẽ nói rằng ba người do bố mẹ gửi sang cho chị. Nay chị gả cho các em, để các em phải trung thành với Đại hãn hơn.

Hôm sau phi cho tổ chức lễ cưới theo phong tục Mông cổ. Trước kia tôi cứ tưởng trong thế gian này không ai đẹp bằng bà Hoàng Liên, bằng phu nhân của A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa”.

Địa Lô cướp lời:

– Bây giờ ba tướng thấy vợ mình đẹp hơn ba phu nhân kia nhiều, tài cầm ca thì không thua gì. Có đúng thế không?

Đại Hòa hỏi Địa Lô:

– Vương phi Ý Ninh thực là người đại ơn của tôi. Phi cưới vợ cho chúng tôi thì phi là mẹ chúng tôi rồi. Ơn này chúng tôi ghi tâm, khắc cốt. Bất cứ phi sai gì, dù tan xương nát thịt chúng tôi cũng không từ nan.

Y dừng lại rồi hỏi Địa Lô bằng tiếng Việt:

– Anh lớn hơn Đại Hòa 2 tuổi, thôi chúng ta theo tuổi mà xưng hô. Anh đang đi trong sứ đoàn Cao ly, sao lại có mặt ở đây?

– Em thử đoán xem.

– Mông Ca được tin Hành sơn vương đem 5 vạn quân tiếp viện cho Ích châu. Tống làm gì có tước Hành sơn vương? Em đoán Hành sơn vương chính là Vũ Uy vương. Năm vạn quân là quân Việt. Có đúng thế không?

Điạ Lô cười không trả lời.

Đại Hòa cười lớn:

– Anh không tin em hả? Phi mã đại tướng quân Đại Hành cho em biết hết rồi.

– Thì ra thế.

– Khi sư phụ với sư muội sang đây, người cũng cho em biết hết rồi. Anh dấu em, tức là không tin em.

Địa Lô dọ dẫm:

– Không phải thế. Anh muốn chính em nói ra mà thôi. Nếu như mai này quân Việt đối trận với Mông cổ thì em có đánh lại bọn anh không?

Kim Đại Hòa hỏi:

– Anh có biết em tên gì không?

– Kim Đại Hòa.

– Đó là tên Cao ly, tên giả. Em là con của Bình hải công Lý Quang Bật, tên của em là Lý Long Hòa. Em là đệ tử của sư Đại Đăng. Thế thì em cũng là người Việt như anh vậy. Trong bốn tướng hộ vệ Đại hãn thì em là một. Một người nữa là Phi mã đại tướng quân Đại Hành cũng là người Việt. Em biết, trước sau gì Đại Việt cũng sẽ viện Tống. Có thể em phải đối đầu với quân Việt. Đại Hành cho biết Hành sơn vương là Vũ Uy vương, nên em xin Đại hãn cho đi sứ để chúng ta bàn bạc, trường hợp phải đối trận với nhau thì hành xử ra sao?

Địa Lô bàn:

– Có phải khi Mông Ca thân chinh, thì đội hình bốn đội Thiết đột Cấm vệ như sau:

Phía trước là A Mít Lỗ Tề,
Bên phải là Đi Mi Trinh,
Bên trái là Kim Đại Hòa.
Phía sau là Đại Hành.

Đại Hòa lắc đầu:

– Đấy là tổ chức trước đây. Được tin các hàng tướng quay giáo chống lại Mông cổ thì các thân vương cho đổi: mỗi khi xuất trận, đội hình lại đổi. Trong bốn đứa bọn em thì A Mít Lỗ Tề là người Tây vực, Đi Mi Trinh là người Nga la tư. Đại Hành là người Việt. Em là người Cao ly. Mới đây Hốt Tất Liệt mới gửi tên Ô Mã Nhi đem vào 500 cao thủ người Hán mà y mới tuyển để bảo vệ Mông ca.

– Có thể Đại hãn nghi ngờ Đại Hành không?

– Không, Đại hãn cực kỳ sủng ái Tuyên phi Thanh Liên. Mà Đại Hành là người thân tín của Tuyên phi, đời nào Đại Hãn nghi anh ấy.

Địa Lô chủ động:

– Khi em hay Đại Hành, A Mt Lỗ Tề, Đi Mi Trinh phải đối trận với quân Việt thì chúng ta làm như thế… như thế…

Đại Hòa trì nghi:

– Như vậy sau trận đánh tất Mông cổ nghi ngờ ba đứa này thì nguy lắm.

– Các em dẫn vợ về Đại Việt sống. Triều đình Đại Việt sẽ phong chức tước cho các em.

Sáng hôm sau, phía Tống Địa Lô mang theo mười đệ tử kiếm trận Mê linh, giải Dương Đại Uyển, Đặng Văn ra ngoài thành. Phía Mông cổ, Kim Đại Hòa có 10 Cấm vệ đi theo, giải Gia Huyễn Ông, Chu Anh tới.

Ghi chú,

Gia Huyễn Ông là một danh sĩ Tống, là một thi sĩ, nổi tiếng về khoa học huyền bí: tướng mệnh, phong thủy, nhâm độn, bốc phệ; sau về triều Tống giữ chức Hộ bộ thị lang, rồi dần dần thăng lên Đoan minh điện đại học sĩ, Khu mật viện sứ. Ông đi sứ Nguyên, bị giữ lại. Ở trong tù nghe tin nhà Tống mất, ông tuyệt thực. Người Nguyên khen ông có tiết tháo, muốn phong chức cho ông. Ông từ chối. Khi Nguyên Thành tông lên ngôi (1295) ông được phóng thích, ban cho mỹ tự “Xử sĩ”. Đương thời ông là một nhà nho cầm quân. Giỏi binh pháp, tính khí cương trực

—>Hồi thứ 82

Advertisements
This entry was posted in 10- ANH HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ. Bookmark the permalink.