ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.III: Hồi 73)

Hồi thứ bẩy mươi mốt
Quần thoa đương kiếm kích
(Dùng quần thoa đấu với kiếm kích)*

* Lấy ý trong đôi câu đối ở đền thờ Công chúa Gia hưng Trần Quốc, tại làng Hoàng xá, xã Kiêu kỵ, huyện Gia lâm, Hà nội.
Ngài là Đô đốc tư lệnh Hải quân triều vua Trưng.

Nguyên văn:

Tô khấu tước bình, trực bả quần thoa đương kiếm kích,
Trưng vương dực tải, hảo tương cân quắc hộ sơn hà.

( Bình giặc Tô Định, dùng quần thoa đấu với kiếm kích.
Giúp vua Trưng, dùng khăn yếm giữ non sông).

Địa Lô nghĩ thầm:

– Hai cô này không ai hiểu mình hết. Bọn Thiên trường Ngũ ưng từ khi mới lớn phải lăn mình vào giữ nước. Có đứa nào dư thì giờ đâu mà nghĩ đến yêu! Nghĩ đến cưới vợ.

Vũ Uy vương hiểu rõ lòng thuộc hạ mình. Vương xua tay:

– Hai cô em này lý luận tuy đúng. Nhưng các em ơi, trên đời này có nhiều loại tình yêu. Người ta nói nhiều về tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng. Ít ai nói đến tình yêu nhân luân như ông-bà với cháu, cha mẹ với con cái, anh em với nhau. Cũng có cái tình rất cao rất đẹp là tình yêu quê hương. Nhưng tất cả đều thua tình yêu nước. Địa Lô hay Thiên trường ngũ ưng đều dành tất cả cho tình yêu này, mà không chú ý đến tình yêu nam nữ. Tôi nói không chú ý đến chứ không phải không biết yêu. Chả vậy mà Dã Tượng từng yêu Thanh Nga, giờ này chắc đang ngồi tưởng nhớ đến Thanh Nga tại quê nhà. Mà chàng đâu biết nàng đang say sưa hạnh phúc bên chồng? Địa Lô cũng yêu Như Lan đấy chứ. Tim Lô đâu có phải là tim gỗ? Hồi ở Văn sơn, hai người thường bí mật hẹn hò nhau, khi thì bên suối Vạn tuyền, khi thì đỉnh đồi Bạch vân.

Thúy Nga được dịp trêu Địa Lô:

– Chà! Hẹn hò yêu thương đến thế mà bọn em không biết gì? Gớm thật, mà cũng may thật. Hẹn hò mượt mà đến thế nhưng Như Lan không mang thai thì cũng lạ.

Bị kết tội, Địa Lô kinh hoàng:

– Mình với Như Lan hẹn hò trời không biết, quỷ thần không hay thế mà ông chú này lại biết hết. Bái phục.

Chàng biện luận:

– Này cô em tiên nữ! Anh với Như Lan tuy có hẹn hò, tình tứ, nhưng anh vẫn giữ cho nàng tuyết sạch, giá trong, chứ đâu dám làm ô uế thân thể cao quý của nàng.

Nghe vương nói : chả vậy mà Dã Tượng từng yêu Thanh Nga, giờ này chắc đang ngồi tưởng nhớ đến Thanh Nga tại quê nhà. Mà chàng đâu biết nàng đang say sưa hạnh phúc bên chồng? Thanh Nga rung động tâm can, xót xa trong lòng. Nàng nghĩ thầm: không biết bây giờ Dã Tượng ra sao? Anh có còn tưởng đến mình không? Đã kết hôn với Thúy Hồng chưa?

Thúy Nga hiểu lòng bạn mình. Nàng kéo Thanh Nga ra khỏi cái buồn:

– Này anh Địa Lô, em có lời đề nghị: cô em vợ Lý Đảm quả là một đấng thiên tiên giáng thế. Dường như tên nàng là Vương Chân Phương thì phải. Anh bắt nàng làm vợ đi.

– Làm sao mà anh bắt được? Họa chăng em giúp anh một tay.

– À như vậy là anh ưng nàng rồi phải không?

– !!!

– Là vương phi A Lan Đáp Nhi, Tả thừa tướng, hành Trung thư tỉnh; hôm nay vào thành em ban lệnh cho bà vợ Lý Đảm: mấy hôm nữa em với bà sẽ hội kiến. Vậy bà nên đem cô em Vương Chân Phương theo. Em cũng ban lệnh cho Thái tử Cao ly đem anh vào. Giữa chỗ uy nghiêm, em sẽ nhân danh Đại hãn Mông Ca, ban chỉ gả cô nàng Vương Chân Phương cho anh, rồi bắt làm đám cưới ngay lập tức. Làm như vậy thì Như Lan sẽ buồn lắm. Buồn thì buồn chứ bây giờ nàng là Thái tử phi, nay mai lên ngôi Hoàng hậu rồi thì đâu còn hy vọng gì nữa mà muốn bắt anh mỏi mắt trông chờ?

Tuy là lời nói đùa, nhưng Địa Lô cũng kinh hoảng, tim chàng đau nhói một cái. Tử nghĩ thầm: trong tâm mình chỉ có Như Lan mà thôi. Tuy cô này nói đùa, nào biết đâu cô ta làm thực thì nguy tai! Việc triều đình, việc xã tắc ngổn ngang mà mình lấy vợ, rồi vướng vít thê nhi thì còn đâu thời giờ lo việc nước. Hơn nữa mình không thể quên được Như Lan, thì sao yêu Chân Phương được. Không! Mình không thể lấy vợ lúc này . Khi cái họa Mông cổ vẫn đe dọa con dân Đại Việt mình, thì mình quyết không lấy vợ. Nhất là hình bóng Như Lan chưa phai mờ!

Muốn chấm dứt đùa cợt, Vũ Uy vương hỏi Địa Lô:

– Lát nữa A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa tới đây mình phải nói gì? Làm gì?

Địa Lô không muốn cho hai cô em nghe, Tử dùng Lăng không truyền ngữ thảo luận với vương, vương phi một lúc. Rồi Tử dặn Thúy Nga, Thanh Nga:

– Người Mông cổ khác với mình. Người mình thì việc quan tuyệt đối không nói, không bàn với người trong nhà. Ngược lại người Mông cổ thường hay bàn chính sự với vợ.

Thanh Nga cười:

– Anh không nói em cũng biết. Làm vợ Ngột A Đa hơn năm qua em từng tham gia vào tất cả việc làm của chồng. Ví dù người Mông cổ giống người mình, không bàn việc với vợ, chúng em sẽ dùng thuật bắt nai, để họ phải khai hết với chúng em. Chúng em không phải như những tỳ thiếp của họ, chỉ là món đồ chơi. Chúng em đang làm phận sự của Tây Thi mà. Anh ơi! Cái vụ Lý Đảm chúng em phải hành động ra sao?

Địa Lô nói thực chậm:

– Hai cô là chìa khóa của vụ này. Hai cô phải làm như thế… như thế. Khi nói với chồng cố dùng lời cho thực ngọt ngào, nhẹ nhàng.

Tử trao cho mỗi nàng một tập sách mỏng:

– Đây là tâm huyết của anh trong suốt thời gian ở Yên kinh. Hai em về đọc kỹ, rồi theo đó mà thi thố tài năng.

Hai nàng cung kính tiếp sách.

Vũ Uy vương vẫy hai nàng sang một phòng nhỏ, đóng kín cửa lại, rồi nghiêm mặt noi:

– Tình cảm của anh chị với các em không khác anh em ruột thịt. Nhưng những điều anh sắp nói với hai em là chỉ dụ của triều đình truyền cho hai công chúa, chứ không còn là lời nói của anh với em nữa.

Thúy Nga, Thanh Nga rùng mình:

– Em biết đây là chỉ dụ tuyệt mật, nên dù vương phi, dù Địa Lô anh cũng không cho biết. Bọn em sẽ hết sức mình thi hành, dù hy sinh thân mình cũng không từ.

Vương nói thực chậm:

– Nhắc để các em nhớ, triều đình gả các em cho A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa, không phải để các em tìm hạnh phúc, mà mong các em đem lại hạnh phúc cho chồng. Một liếc mắt, một nụ cười, một cử chỉ âu yếm, các em có thể xóa bỏ cơn tức giận, cơn thịnh nộ của chồng. Hãy cố gắng đừng bao giờ làm cho chồng buồn, làm cho chồng mệt mỏi tâm thần.

– Dạ! Các em xin ghi nhớ.

– Triều đình phong tước cho các em, lại phong phẩm hàm cho song thân các em. Từ khi về Mông cổ, các em làm nhiệm vụ của con cháu vua Trưng. Bây giờ các em là cái bóng của vua Trưng. Các em có ba điều phải thực hiện ngay.

Hai nàng im lặng lắng nghe.

– Điều thứ nhất, hiện hai ông chồng đang hết sức sủng ái các em. Các em phải ôn lại bài học bắt nai, để tăng thêm lòng tin của chồng. Hai em ngọt ngào, tìm cách khéo léo xen vào việc của chồng, nghĩa là nắm lấy một số quyết định của chồng.Đối với Xã Tắc, các em đã là cái bóng của vua Trưng rồi.

Thúy Nga đưa mắt cho Thanh Nga:

– Đối với em thì dễ thôi, vì phu quân sủng ái em cùng cực. Em đã xen vào hầu hết quyết định của chồng.

Vương hỏi Thanh Nga:

– Thúy Nga đã làm bóng của vua Trưng tái giáng thế. Còn em?

Thanh Nga rùng mình, lắc đầu, một tia lửa lóe lên trong tâm nàng:

– Mình đáng chết thực. Khi mình với Ngột A Đa mới gặp nhau, chị Ý Ninh dã từng cảnh cáo: phải cẩn thận, không được đùa với ái tình. Quả mình đùa, rồi yêu một lúc hai người hai tình cảm khác nhau. Với Dã Tượng thì yêu sâu sa, với Ngột A Đa thì yêu sôi nổi. Rồi từ khi lấy chồng mình u mê trong tình yêu, mà quên một phần nhiệm vụ. Ôi mình thua Thúy Nga xa. Không thể được. Nếu mình không là bóng của vua Trưng, thì ít ra cũng là bóng của Thánh Thiên, Lê Chân hay ít ra cũng là bóng của bà Triệu.

Nghĩ vậy nàng lấm lét nhìn vương:

– Em sẽ làm như chị Thúy Nga.

Vương gật đầu:

– Điều thứ nhì, hiện A Lan Đáp Nhi đã soạn xong các lệnh chỉ bổ nhiệm, điều động văn võ quan tại Sơn Đông. Hai em tìm cách đọc các lệnh chỉ này, rồi tóm lược trao cho năm đệ tử Mê linh ẩn thân làm đầu bếp. Mỗi ngày họ đều phải ra chợ mua thực vật. Chúng ta sẽ đón họ, lấy tin, tùy nghi ra lệnh cho các em.

Thanh Nga vui mừng nghĩ thầm: làm việc này không khó. Mình là bóng vua Trưng rồi đây. Nàng đáp:

– Vương gia yên tâm. Em làm được, vì các lệnh chỉ, Ngột A Đa cất trong một cái hộp, trao cho em giữ. Ngay lập tức tối nay em sẽ đọc lại, tóm lược, mai em sẽ gửi ra.

– Điều thứ ba: chúng ta sẽ sửa đổi lệnh chỉ hoặc cách chức, hoặc bắt, hoặc đổi đi nơi khác, toàn bộ đám Bình chương chính sự vùng Sơn Đông. Hoặc ta bắt chúng phải thống thuộc Lý Đảm. Sau đó các em tìm cách tiếp xúc với họ hoặc vợ họ rồi cho họ biết, chồng các em nhờ em trao mật lệnh đến họ. Họ phải tuyệt đối thi hành.

Thanh Nga kinh ngạc:

– Nhưng chồng chúng em có nhờ chúng em đâu?

Thúy Nga kéo tai Thanh Nga:

– Em nghe không rõ rồi, để chị nhắc lại: tỷ dụ lệnh chỉ điều Đô đốc Tế Nam đi trấn hồ Nam dương, mình báo cho vương gia. Vương gia sửa lại cho y đi Lạc dương. Chắc chắn y sẽ ngạc nhiên, tìm cách hỏi lại văn phòng Trung thư lệnh. Nếu chúng mình nói trước với y như vậy thì y sẽ im lặng, tuyệt đối thi hành mà không hỏi han, kế hoạch của mình mới không bại lộ.

Đến đó vương cùng hai nàng mở cửa ra ngoài.

Có tiếng vó ngựa khua lộp lộp bộp. Biết A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa tới. Mọi người chuẩn bị đón khách. Địa Lô ẩn mình vào với đám đầu bếp, tỳ nữ.

Sau hai tuần rượu, Thúy Nga nói với A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa:

– Bây giờ em mời hai anh xơi một món đặc sản của Đại Việt. Món này chính tay tiên của Thanh Nga làm đấy.

Nàng vỗ tay, tỳ nữ bưng ra hai bát lớn, khói bốc lên nghi ngút. A Đa hít hơi:

– Món gì mà thơm quá vậy. Hồi xưa mẹ tôi đã làm cho tôi ăn, mà tôi không nhớ tên.

Thanh Nga cười:

– Đó là món thịt chó giả!

– Cái gì? Thịt chó à? Em khéo đùa thì thôi! Anh không tin, vì ông bà Vũ Uy vương là Phật tử thuần thành đời nào ông bà ấy dám ăn thịt chó?

Thanh Nga liếc mắt đưa tình:

– Anh nghe không rõ rồi! Em nói thịt chó giả chứ có nói thịt chó thật đâu? Tên thực của món ăn này là giả cầy hay giả mộc tồn.

– Mộc tồn! Sao nghe lạ tai quá.

– Mộc là cây. Tồn là còn. Cây còn là con cầy. Khi ăn thịt chó, người ta mượn danh con cầy để gọi cho có vẻ trong sạch.

Thúy Nga múc giả cầy cho mọi người. A Lan Đáp Nhi hỏi vợ:

– Món này thơm ngon thực. Em có biết làm không?

– Biết! Nhưng không chắc ngon bằng Thanh Nga .

Vương phi Ý Ninh bảo Thanh Nga:

– Em giảng cách làm giả cầy như thế nào cho Thừa tướng nghe đi, kẻo mai này chúng ta về Hoa lâm rồi mỗi người một nơi, Thúy Nga còn làm cho phu quân xơi chứ!

Thanh Nga nhìn A Lan Đáp Nhi:

– Nếu như sau này chị Thúy Nga làm, không vừa miệng đại ca, thì đại ca hú một tiếng em sẽ làm, mang đến dinh đại ca nghe. Thế này, vật liệu làm giả cầy gồm đùi lợn mà là đùi dưới, chứ không phải đùi lớn; gia vị có mẻ, riềng, mắm tôm, lá tía tô, xương xông.

Ngột A Đa than:

– Em ơi! Mông cổ là vùng giá lạnh thì kiếm đâu ra mẻ, riềng, lá tía tô?

– Anh khéo than thì thôi! Bố (Trung Thành vương) nói Mông cổ chỉ lạnh có sáu tháng thôi. Còn sáu tháng nóng. Sáu tháng nóng ta trồng riềng, tía tô. Mẻ ta nuôi trong nhà thì mùa Đông cũng có mẻ!

A Lan Đáp Nhi khen:

– Nhị muội chưa về nhà chồng mà đã theo dõi biết rõ khí hậu Thảo nguyên rồi.

Thanh Nga nghĩ thầm: Đại ca ơi! Chồng em là người Việt, quê ở Thiên trường chứ đâu phải Mông cổ? Tuy nghĩ vậy, nàng vẫn mỉm cười tiếp:

– Trước hết phải dùng ba đến bốn thanh tre tươi, đầu vót nhọn, xuyên qua đùi lợn, đem nướng bằng than củi. Không được nướng bằng củi, bằng rơm, vì khói bốc lên có mùi khét.

Thúy Nga hỏi:

– Tại sao phải là tre tươi?

– Vì khi gặp lửa tre tươi tiết ra nước chát, nước chát ngấm vào thịt. Nước chát có khả năng chống lại mỡ, khi ăn không bị ợ hơi. Em xin tiếp. Nướng tới khi da đùi cháy xém thì ngừng lại, dùng dao cạo sạch lớp da mỏng bên ngoài bị cháy; thái thành từng miếng bằng quả chanh. Nhớ thái sao cho miếng nào cũng có da, mỡ, nạc khi ăn mới ngon. Nhược bằng thái da, nạc riêng ăn không ngon. Cứ hai cân (# 1kg ngày nay) thịt thì một muỗm mẻ, một củ riềng bằng quả chanh, một muỗm mắm tôm. Riềng dã nhuyễn, đồ mẻ lấy nước, trộn với mắm tôm. Tất cả gia vị trộn với thịt. Bóp cho thịt thấm gia vị, rồi đậy kín để trong nửa ngày.

– Khó quá!

Ngột A Đa than: Bây giờ thì nấu phải không?

– Không phải nấu mà cho vào nồi xào, xào tới khi nào thịt teo thì đổ thêm nước, nước cao hơn thịt một đốt ngón tay. Tiếp tục đun cho đến khi nước cạn bằng thịt thì trộn tía tô, xương xông và… ăn.

A Nan Đáp Nhi nhìn chuỗi hạt trai đeo trên cổ vợ, vương mỉm cười:

– Thế nào? Nghe nói sáng nay em theo Vũ Uy vương dạo khắp Yên kinh. Em đã mua được những gì?

Từ khi nhập tiệc, Thúy Nga cố tìm dịp thực hiện những gì Vũ Uy vương ban chỉ phải nói, phải làm mà không thể nào xen vào được. Bây giờ nghe chồng hỏi, có dịp, nàng nắm lấy tay chồng, liếc mắt đưa tình:

– Em chỉ mới được du ngoạn cửa Nam, cửa Đông. Còn cửa Bắc, cửa Tây thì em muốn lắm, nhưng… nhưng… sợ bị chân tay của Hốt Tất Liệt làm thịt, nấu giả cầy nên không dám đi!

Nàng nghĩ thầm:

– Mình có dịp làm công chúa Gia hưng rồi đây. Công chúa Gia Hưng lĩnh ấn Đô đốc thủy quân thời vua Trưng, vượt sóng biển Đông phá tan hạm đội nhà Hán, thì mình dùng ánh mắt đánh Mông cổ cũng thế.

Vốn được đào tạo bài bản uốn giọng, nhả chữ rất kỹ khi còn học ở phường Đông hoa, rồi lại được huấn luyện thuật bắt nai trước khi đi lấy chồng; Thúy Nga ngước mắt nhìn chồng đầy tình tứ, chớp mắt như muốn khóc, pha lẫn sợ sệt, ép má vào vai chồng. Lòng A Lan Đáp Nhi nhũn ra trong cái say say tình yêu. Viên đại tướng khét tiếng Mông cổ buông đũa nắm lấy hai vai vợ:

– Khắp vùng Yên kinh này dù văn quan, dù võ tướng, dù Hán, dù Mông, khi thấy em đeo hổ phù của anh, đều phải rập đầu hành lễ. Em sợ ai?

Thúy Nga rùng mình lắc lắc đầu không nói. A Lan Đáp Nhi càng thắc mắc, càng tội nghiệp vợ. Vương phi Ý Ninh thấy vậy can thiệp:

– Vương gia ơi! Câu truyện như thế này. Trong khi chúng tôi du ngoạn, được nghe dân chúng bàn tán rất nhiều về vụ đại vương Hốt Tất Liệt bị giải trừ binh quyền. Họ nói rằng chân tay của đại vương trải khắp nơi. Tại Yên kinh có cả một triều đình do A Lý Hải Nha lĩnh Thừa tướng Trung thư tỉnh. Dưới có Tuyên phủ ty gồm 16 bộ, chứ không phải Lục bộ. Ngay tại Yên kinh, trong cung đầy đủ Thái giám, Cung nga, Thị vệ, Cấm quân, Cấm vệ. Lý Hằng lĩnh Yên kinh hành Trung thư tỉnh. Khi Đại vương Hốt Tất Liệt về Hoa lâm, thì hệ thống quan lại của vương vẫn còn đó. Vụ này giống như vương xuất sư đi xa vậy. Đất Trung nguyên này là một nước của vương. Các quan của vương nắm quyền cai trị, nắm quyền quân sự. Nếu như đại vương hô một tiếng thì khắp Trung nguyên sẽ kéo cờ tôn người làm Đại hãn. Người là Đại hãn rồi, khi tiến ra đại vương sẽ xua quân về chiếm Thảo nguyên, diệt Mông Ca; nhược bằng lui về vẫn có thể làm chúa Trung nguyên. Còn vương gia với Ngột A Đa, Lưu Thái Bình thì chúng muốn vặn cổ lúc nào mà chả được! Có rất nhiều người thấy Thúy Nga, Thanh Nga đeo hổ phù đều tỏ vẻ khinh khi, đôi khi nói lời đe dọa, chửi bóng, chửi gió. Nếu như không thấy vợ chồng tôi đeo kiếm đi cạnh, họ đã hại hai cô bé này rồi.

A Lan Đáp Nhi rùng mình nói với Ngột A Đa:

– Nhị đệ! Vương phi nói không sai. Tuy đại vương Hốt Tất Liệt đã về Hoa lâm, nhưng từ lâu rồi, ông ta thiết lập tại Yên kinh một triều đình Trung nguyên: này nhé, Tuyên phủ ty với 16 bộ. Khu mật viện. Mỗi bộ có một Thượng thư, hai hay ba Tham tri, rồi hàng chục Lang trung, Viên ngoại lang. Cái nguy hiểm là ông ta tổ chức một Vạn phu cấm quân, một Thiên phu Thị vệ trong thành. Trong Cấm thành còn hai đội Cấm vệ.

Thúy Nga tiếp:

– Kinh sợ hơn nữa, là vương tuyển mấy trăm cung nga, thái giám. Bây giờ em với Thanh Nga vào trong thành, tuy bề ngoài bọn Thị vệ, cung nga, thái giam hầu hạ bọn em như hoàng hậu, thứ phi. Nhưng lỡ ra chúng ám toán thì sao?

Thấy vương phi, Thúy Nga đã đốt lên đám cháy, Thanh Nga nghĩ: mình phải xứng đáng là cái bóng của vua Trưng, mình cũng nên đổ thêm dầu vào vụ này cho thành ngọn lửa lớn. Nàng nói với Ngột A Đa:

– Anh ơi! Vào thành nguy hiểm quá, thôi anh để em ở đây với vương gia, vương phi đi. À, không ổn rồi, nếu như mai này Vũ Uy vương về nước rồi, hai chúng em ở đây hay về Mông cổ, không người bảo vệ thì cầm chắc cái chết trong tay. Hay là thế này, anh cho chúng em về lại Đại Việt đi.

Ngột A Đa cau mày:

– Anh biết rõ vụ này, nên hôm về đây anh đã cách chức viên Tổng quản Thị vệ rồi cử Kim Đại Hòa thay thế . Anh cũng thay bổ nhiệm A Mít Lỗ Tề làm Tổng thái giám . Nhất là bổ nhiệm Đi Minh Trinh chỉ huy Cấm quân. Như vậy còn sợ gì nữa ?

Vương phi Ý Ninh hỏi :

– Tôi nghe Đại vương Hốt Tất Liệt có Ngũ hổ tướng, võ công cao thâm không biết đâu mà lường. Một người giữõ chức Thừa tướng là A Lý Hải Nha thì Thừa tướng đã nói cho chúng tôi biết rồi. Còn bốn người kia thì một người giữ chức Tổng trấn Yên kinh, một người Quản Khu mật viện, một người Thống lĩnh Cấm quân, một người giữ chức Tổng quản Thị vệ. Bốn người đó là ai vậy ?

Ngột A Đa mở to mắt :

– Quả thực kiến thức vương phi rộng quá. Tổng trấn Yên kinh là Lý Hằng, nhưng Hốt Tất Liệt gọi là Yên kinh hành trung thư tỉnh. Quản Khu mật viện là Giảo Kỳ. Tổng quản Thị vệ là Ô Mã Nhi Bạt Đô. Tổng lĩnh Cấm quân là Toa Đô. Tuổi chúng còn rất trẻ. Chúng là những tên được trời cho thể chất cường tráng vô song. Chúng là năm thiên tài võ học của Tây phương. Từ khi theo Hốt Tất Liệt vào Trung nguyên, chúng dùng hết tâm trí nghiên cứu võ công các gia, các phái. Trong cuộc thi võ ở Quan trung, bất cứ cao thủ nào của Trung nguyên cũng không thể chịu được quá ba chiêu của chúng.

Vũ Uy vương rất quan tâm đến tin này :

– A Lý Hải Nha chúng tôi đã biết. Xin Tham tri nói rõ hơn về bốn tên còn lại.

– Toa Đô không phải là người Mông cổ. Cha y gốc người Tây vực, được tuyển làm Thị vệ cho Thành Cát Tư Hãn. Toa Đô có tên Mông cổ là Sogatu*

Ghi chú,

Vì sau này cả năm tên đều tham dự vào hai cuộc xâm lăng Đại Việt, nên tôi phải ghi chú kỹ về chúng, để các bạn trẻ ở Aâu, Uùc, Mỹ nhất là các bạn trẻ du học Trung quốc khỏi bị lầm lộn.

Lý Hằng, là người Tống theo Mông cổ.
Giảo Kỳ (Ziakyst)
là một thân vương, cháu bốn đời đệ nhất công thần thời Thành Cát Tư Hãn, là Bác Nhĩ Truật.
Toa Đô,
tiếng Mông cổ phát âm là Xô Ghê Tu. Nguyên sử phiên âm là Toa Đô. Tiếng Pháp phiên âm là Soghaitou. Diêu Toại soạn bia trên mộ A Lý Hải Nha năm 1300 phiên âm là Toa đột. Đời Thanh phiên âm là Sách đa.
Ô Mã Nhi Bạt Đô:
tên Mông cổ là ‘Omar ba’atur. Nhiều sách lầm cho là hai người khác nhau, rồi cắt tên này ra làm hai là Ô Mã Nhi với Bạt Đô. Theo thể chế Mông cổ, khi tuyển võ, người nào đoạt chức vô địch, hoặc một tướng võ công cao nhất thì được gọi là Bạt Đô. ‘Omar là một tên Hồi giáo.

– Năm tên đó hiện ở đâu ? Thừa tướng nên chiêu dụ chúng hơn là xua đuổi.

A Lan Đáp Nhi lắc đầu :

– Vô ích. Khi mới về đây, tôi triệu hồi năm tên này dùng lời lẽ ngọt ngào phủ dụ chúng, thuyết phục chúng rời bỏ Hốt Tất Liệt. Nhưng A Lý Hải Nha cãi rằng y là Tể tướng hành Trung thư tỉnh của Hốt Tất Liệt, nay vương vắng mặt, y không rời chức vụ. Giảo Kỳ chịu đầu hàng. Còn lại Lý Hằng, Toa Đô, Ô Mã Nhi xin về Hoa lâm theo hầu Hốt Tất Liệt. Hai tên Toa Đô, Ô Mã Nhi là con của hai Thị vệ thời Thành Cát Tư Hãn. Hai người này phạm tội bị Đại hãn Mông Ca kết án giết cả nhà. Hốt Tất Liệt hết sức xin Mông Ca ân xá cho, rồi dùng làm Thị vệ hầu cận. Hốt Tất Liệt nuôi dạy chúng như con. Vì vậy tôi tiếc tài trao cho chúng coi đội Cấm vệ, mỗi đội chỉ có 40 người, canh phòng Hoàng cung.

A Lan Đáp Nhi hỏi Vũ Uy vương :

– Dù nói cách nào, Đại Việt cũng là một nước trung thành với Đại hãn, chống lại Hốt Tất Liệt. Vì vậy từ khi gặp vương gia, chúng tôi coi vương gia là người của Đại hãn. Vương gia là bậc tài trí, vương gia thấy vụ này thế nào ?

Chỉ chờ có thế, Vũ Uy vương nói thực chậm:

– Đại vương Hốt Tất Liệt muốn biến Trung nguyên cũng như các nước phương Đông thành một nước, tách khỏi chính quốc, vì vậy đại vương phế bỏ luật lệ của Thành Cát Tư Hãn mà dùng Hán pháp cai trị dân. Nếu như đại vương thành công thì chỉ năm chục năm sau dù quan, dù quân, dù dân Mông cổ sẽ thành người Hán hết. Người Hán khỏi cần nổi lên chống đối nữa. Chính vì thế nên người Hán theo gió mà đầu đại vương. Họ coi đại vương như Lưu Bang lập ra nhà Hán, như Lý Uyên lập ra nhà Đường, như Triệu Khuông Dẫn lập ra nhà Tống .

Ghi chú,

Lời tiên đoán của Vũ Uy vương, một trong những bậc tài trí nhất thời Đông A quả không sai. Sau này Hốt Tất Liệt lên ngôi Hoàng đế, đổi quốc hiệu là Nguyên, cai trị Trung quốc như một vua Hán, Đường. Hoàng tộc, quan lại, tướng sĩ Mông cổ bị đồng hóa thành người Hán. Dân Hán không coi triều Nguyên là rợ phương Bắc, là ngoại quốc nữa, mà là triều đình Trung nguyên. Từ hồi ấy tới giờ dân chúng, các sử gia coi Mông cổ là người Hoa.

Vương phi Ý Ninh tiếp:

– Từ khi Thành Cát Tư Hãn chiếm Yên kinh, tổ chức cai trị theo luật Mông cổ, cố đô Liêu, Kim được coi là vùng an ninh nhất nước. Nhưng nay thì không. Bốn phía Yên kinh thì chỉ duy phía Bắc giáp Mông cổ là có an ninh hoàn toàn. Phía Tây ảnh hưởng của Mông cổ còn mạnh thì không đáng lo. Nhưng một giải phía Đông Nam giáp Sơn Đông, vùng bờ xôi giếng mật thì các Bình chương chính sự Hành tỉnh, Đô đốc, dĩ chí các tướng Thiên phu, Vạn phu đều là chân tay của đại vương Hốt Tất Liệt. Đây là mối đe dọa Yên kinh. Cũng may vùng này còn một người trung thành với Đại hãn, đó là Lý Đảm.

A Lan Đáp Nhi cau mày:

– Nhưng Đảm lại biên thùy một cõi, y chỉ thần phục Đại hãn mà thôi. Y tổ chức quân đội riêng, bổ nhiệm quan cai trị riêng như một nước.

Thúy Nga đánh sẽ vào tay chồng, mỉm cười :

– Hôm trước ngồi nghe anh thảo luận với các quan trực thuộc, em còn nhớ Hốt Tất Liệt mạo danh Đại hãn bắt Lý Đảm chịu sáu điều như đã bắt Cao ly, Đại Việt:

  1. Một là đích thân quốc vương phải vào chầu,
  2. Hai là đem trưởng nam làm con tin,
  3. Ba là kê biên dân số,
  4. Bốn là phải chịu quân dịch,
  5. Năm là phải nộp thuế, lương thảo.
  6. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri)

Như vậy vùng y cai trị có khác gì một tỉnh của mình ?

Thấy chồng lắng nghe mình nói, nàng nhủ thầm : phải xen vào việc này càng nhiều càng tốt :

– Hiện các nước nhỏ như Cao ly, Tây hạ, Đại lý, Tây tạng, dĩ chí các đại tướng cầm quân, các Bình chương chính sự Hành tỉnh, Đô đốc đều bị Hốt Tất Liệt lạm quyền, mạo lệnh chỉ Đại hãn bắt đem trưởng nam đến Yên kinh làm con tin. Một mai khi Hốt Tất Liệt khởi binh, đương nhiên những người bị khống chế giống như như Lý Đảm, họ phải theo y làm phản. Đâu thì không biết chứ cái đất Yên kinh này lọt vào tay Hốt Tất Liệt quá dễ dàng.

Thấy chồng đã tin lời mình, Thúy Nga tiếp :

– Em nghĩ anh nên trao hết quyền hành vùng Sơn Đông cho Lý Đảm còn hơn để thuộc Hốt Tất Liệt. Bây giờ anh thử so sánh giữa việc trao quyền toàn vùng Sơn Đông cho Lý Đảm với việc để cho bọn chân tay Hốt Tất Liệt, thống lĩnh thì việc nào lợi hơn ?

Thanh Nga dáng một đòn chí tử :

– Giặc ngoài dễ trị, giặc trong khó phòng. Nếu như trao toàn Sơn Đông cho Lý Đảm mà y phản bội, ta trị dễ hơn là để cho vùng này theo thân vương Hốt Tất Liệt.

A Lan Đáp Nhi nói với Vũ Uy vương :

– Tôi sẽ làm theo lời vương gia, vương phi và Thúy Nga. Trước hết tôi triệu tập triều đình của Hốt Tất Liệt, nhân danh Khâm sứ của Đại hãn tuyên bố rằng triều đình này là triều đình gian, ban lệnh giải tán. Trong buổi hội này tôi cũng cho gọi tất cả bọn Bình chương chính sự Hành tỉnh, Đô đốc, Tướng quân, Đạt lỗ hoa xích toàn vùng Sơn Đông về đây rồi kiềm chế chúng, hoăc đổi chúng đi vùng khác. Một mặt tôi ban mật lệnh cho Lý Đảm, tiến quân tiếp quản bổ nhiệm người thay thế. Như vậy ta biến Sơn Đông thành một vùng trung thành với Đại hãn.

Tiệc tàn, A Lan Đáp Nhi nói với Vũ Uy vương :

– Bốn hôm nữa chúng tôi sẽ có một cuộc họp. Trong cuộc họp này, tôi sẽ tuyên bố giải tán cái triều đình của Hốt Tất Liệt. Tôi cũng sai triệu tập tất cả sứ đoàn hiện đang làm con tin ở Yên kinh, công bố 142 tội của Hốt Tất Liệt ; để họ biết rằng đúng ra họ phải đi Hoa lâm chứ không phải ở đây. Việc họ bị làm con tin tại Yên kinh là do Hốt Tất Liệt lạm quyền. Vì vậy họ sẽ được đưa đi Hoa lâm. Trong dịp này tôi sẽ triệu hồi văn võ quan vùng Sơn Đông về một thể. Tôi sẽ thực hiện những gì chúng ta bàn. Tôi kính thỉnh vương gia, vương phi vào thành tham dự.

Vũ Uy vương nghĩ thầm :

– Mình cũng là một con tin do Hốt Tất Liệt lạm quyền. Đúng ra A Lan Đáp Nhi gửi lệnh triệu hồi như các sứ đoàn khác. Y lịch sự nói rằng mời mình, hẳn vì mình cứu Câu khảo cục bao phen, hơn nữa y nể mặt Thúy Nga với Thanh Nga đây.

Nghĩ vậy vương cung tay :

– Đa tạ Thừa tướng! Chúng tôi sẽ hiện diện như những sứ đoàn khác.

Ngột A Đa tiếp :

– Tôi cần Thúy Nga, Thanh Nga nhập thành trong nhiệm vụ vương phi, đại phu nhân đãi tiệc, tiếp họ.

Y nói với Thúy Nga, Thanh Nga :

– Hai em chuẩn bị hành lý, lên xe vào thành ngay.

Thanh Nga nói với vương phi Ý Ninh :

– Trước đây mỗi lần Hốt Tất Liệt chiêu đãi các sứ thần, thường mời ăn món Trung nguyên, Mông cổ, Tây vực. Bây giờ khắp Yên kinh này ai cũng biết vương phi A Lan Đáp Nhi với em là người Việt. Người Việt mà đãi các món ăn Mông cổ, Tây vực thì xấu hổ chết. Em định mời họ ăn các món ăn Việt. Vậy xin chị cho em mượn năm đầu bếp, em cần họ tiếp tay làm các món Việt đãi khách.

– Được ! Em định làm những món gì ?

– Bún chả Thăng long, chả cá, nem (chả giò), giò lợn nhồi mọc nấu măng, giả cầy…

Phi đứng lên vào trong, gọi năm trong mười đệ tử phái Mê linh, ẩn danh làm đầu bếp rồi ban chỉ :

– Từ khi sư phụ sai các em rời chùa Thần quang theo sư tỷ. Tuy bề ngoài ta là vương phi, các em là đầu bếp. Song chúng ta trước sau vẫn là sư tỷ, sư muội.

Mười đệ tử Mê linh ẩn danh làm đầu bếp biết sư tỷ không nhân danh vương phi ban lệnh cho mình, mà nhân danh sư tỷ sư muội ban mật lệnh. Họ cùng gật đầu chờ đợi.

– Trong mười em, chị cần hai em trai Sơn Cương, Sơn Trí với ba em gái Hải Hòa, Hải Trang, Hải Hiền theo giúp công chúa Thanh Nga vào thành làm tiệc đãi khách. Vậy các em chuẩn bị lên đường.

Sơn Cương hỏi :

– Trong năm đứa em, đứa nào chưởng quản ?

– Hải Hiền, vì Hiền lớn tuổi nhất.

Hải Hiền hỏi :

– Chúng em có được quyền xử dụng võ công không ?

– Tuyệt đối không ! Trừ khi tính mạng lâm nguy thì được tự vệ.

Hải Hòa thắc mắc :

– Em nghe nói trong thành Yên kinh có một đội ngũ Ngự trù của Hốt Tất Liệt để lại, họ thuộc loại tài hoa bậc nhất Hoa hạ, tại sao công chúa Thanh Nga lại đem chúng em vào làm gì ?

– Em ơi ! Thanh Nga không biết việc này sao ? Song đầu bếp người Hán đâu có biết làm các món Việt?

Phi dặn năm người:

– Lát nữa dây các em sẽ lọt vào cơ quan tối cao của một nước cực lớn. Bất cứ việc gì trong cơ quan này diễn ra cũng ảnh hưởng tới Đại Việt mình. Trong thành có vợ của Tuyên phủ ty gồm Thập lục bộ thượng thư, Tham tri, Lang trung, Viên ngoại lang. Họ có thể là người Mông, người Hán, Kim, Liêu, Tây vực. Tổng lĩnh Cấm quân, Thị vệ, Thái giám là người của A Lan Đáp Nhi. Tuy nhiên bọn Thị vệ, cung nga, thái giám, ngự trù vẫn là người của Hốt Tất Liệt. Vì vậy các em phải đề phòng bọn này cực chi ly. Tóm lại, nhiệm vụ đầu bếp của các em là phụ. Nhiệm vụ chính của các em là: theo dõi hành động tất cả các đại quan, vợ con họ; thu lượm tin tức. Hằng ngày các em ra ngoài thành mua sắm thực vật, ta sẽ sai người tiếp nhận. Trường hợp khẩn cấp thì các em dùng chim ưng gửi ra cho sứ đoàn.

– Chúng em hiểu.

– Trong khi giao tiếp, các em phải nhớ rằng bây giờ Thúy Nga là vương phi của một tước vương nắm quyền Thừa tướng. Thanh Nga là phu nhân của tước Công, nắm quyền phó Thừa tướng. Hai người như một đại hoàng đế Hoa hạ. Trong lễ nghi các em cũng phải làm như những thuộc hạ của họ. Chứ không được ngó như ngao, tao như mày của cái hồi hai người là ca nhi theo sứ đoàn ở Chiêu dương.

Sơn Cương lắc đầu:

– Hai chị này ăn vặt cả ngày. Trong thời gian suốt hơn năm gần nhau, các chị ấy luôn vào bếp đòi bọn em làm bánh cho ăn. Bọn em bắt các chị ấy phải khoanh tay ạ như con nít, rồi bắt hát, thì mới chiều theo. Giữa chúng em với chị ấy đùa với nhau quen rồi. Bây giờ một lời vương phi, một bước cung tay, khó quá.

– Khó thì khó! Các em phải cố gắng.

– Bọn em xin tuân chỉ.

A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa cỡi ngựa đi trước, bốn cỗ xe tứ mã trên chở Thanh Nga, Thúy Nga, cùng 5 đầu bếp theo sau; rời khu Lan hoa vào trong thành Yên kinh.

Vương phi Ý Ninh hỏi vương, với Địa Lô:

– Bốn ngày nữa thì A Lan Đáp Nhi sẽ tổ chức buổi họp, giải tán triều đình của Hốt Tất Liệt. Y cũng tiếp tất cả những con tin mà Hốt Tất Liệt mạo danh Mông Ca an trí ở Yên kinh. Ngoài con tin Cao ly, Tây tạng, Tây hạ, Đại lý, Kim, Liêu, còn có con tin của các Bình chương chính sự Hành tỉnh, Đô đốc, Vạn phu trưởng vùng Sơn Đông, Hà Bắc, Sơn Tây. Tục lệ Mông cổ không những không ngăn cấm hoàng hậu, phi tần, đại phu nhân giao tiếp với các thuộc cấp, cũng như vợ con họ. Mà trái lại phải xuất hiện đãi tiệc, tặng quà cho đám thê nhi này. Thúy Nga, Thanh Nga thừa khả năng giao tiếp. Ta cần phải giúp hai em gì nữa không?

Vương xoa tay vào nhau:

– Anh đã chuẩn bị xong.

–???

– Khi anh cùng hai cô em vào phòng kín. Anh đã ban mật lệnh cho hai nàng.

Vương phi Ý Ninh hỏi Địa Lô:

– Hồi nãy cháu trao cho Thúy Nga, Thanh Nga mỗi người một tập sách mỏng. Sách đó chép gì vậy?

– Cháu dịch lời của hơn trăm bài hát dân gian Đại Việt sang tiếng Hoa thuộc thể loại như Ả đào, Trống quân, Quan họ, Hát nghêu, Hát lý, Hát đò đưa, Hát Xẩm, Hát Chầu văn để hai cô hát trong cuộc tiếp tân này.

Vương khen:

– Hiện khắp gầm trời này không ai đủ khả năng làm việc này, ngoài Lô. Trước hết phải giỏi tiếng Hán, tiếng Mông, tiếng Việt. Rồi phải đủ tài âm nhạc. Chú có lời khen Lô.

Được thượng cấp khen ngợi bằng ngôn từ chân thành, Địa Lô cảm thấy vừa sung sướng, vừa hãnh diện. Vũ Uy vương đưa mắt cho vương phi. Hiểu ý chồng, phi lấy trong bọc ra một con phụng bằng bạc, mắt phụng dát hai viên kim cương, trao cho vương. Vương nắm lấy tay Địa Lô đặt con phượng vào:

– Chú thưởng cho Lô. Khi có giai nhân nào mà Lô sủng ái, thì Lô tặng nàng.

Sáng hôm sau La An khải với vương:

– Có thư của Hải Hiền.

Vương mở ra gọi vương phi, Địa Lô cùng đọc: có hai tờ thư khác nhau . Tờ thứ nhất:

“ Thạc hòa, Trang mẫn, Linh thanh công chúa Thanh Nga cho biết Tả thừa tướng A Lan Đáp Nhi ban lệnh chỉ:

– Điều bốn Bình chương chính sự hành tỉnh vùng Sơn Đông đi Trường an.

– Lại triệu hồi 9 đoàn Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri) vùng này đi Hồ Bắc.

– Ủy cho sứ quân Lý Đảm toàn quyền bổ nhiệm các Bình chương chính sự hành tỉnh vùng Sơn Đông”.

Vương khen:

– Con bé Hải Hiền quả xứng đáng là đệ tử phái Mê linh. Nó gọi Thanh Nga bằng chức tước triều đình ban cho, chứ không gọi bằng chức tước Mông cổ là phu nhân Tham tri chính sự.

Tờ thứ nhì:

“ Linh anh, Chí nhu, Hồng hạnh công chúa Thúy Nga cho biết: Tả thừa tướng A Lan Đáp Nhi ban lệnh chỉ mời các sứ đoàn con tin về Yên kinh dự yến gồm:

– Đại Việt 2 người,

– Cao ly 5 người,

– Kim 2 người,

– Liêu 2 người,

– Đại lý 4 người,

– Tây tạng 2 người,

– Tây liêu 2 người,

– Tây hạ 3 người.

Thư chỉ tên từng người trong sứ đoàn. Như sứ đoàn Đại Việt ghi rõ Vũ Uy vương, vương phi Trần Ý Ninh. Sứ đoàn Cao ly gồm thái tử, thái tử phi Lý Như Lan; bồi sứ Nguyễn Địa Lô, bồi sứ Lý Cán Đại, phu nhân Lê Linh Anh. Sứ đoàn Đại lý gồm thái tử, thái tử phi, bồi sứ Tạ Quốc Ninh, phu nhân Lê Thị Phương Dung, Cao Mang. Sứ đoàn Tây hạ gồm thái tử, thái tử phi, công chúa Trần Hy Hà. Mỗi sứ đoàn được quyền mang theo từ 5 tới 20 người hầu cận.

– Khâm sứ A Lan Đáp Nhi sẽ đãi tiệc các sứ đoàn, cho nghe hát, tặng quà.

– Truyền thống của Mông cổ là mỗi khi tập họp, các Hãn đều đem theo loại ruợu thổ sản của sứ mình, mời toàn thể cử tọa cùng nếm. Vì vậy lệnh truyền mỗi sứ đoàn tùy hoàn cảnh, đem theo loại rượu ngon nhất của nước mình, mời toàn thể cử tọa uống gọi là trao đổi hào khí.

– Thư mời sứ quân Lý Đảm, phu nhân, con trai trưởng đang làm con tin; quân sư Vương Văn Thống và tiểu thư Vương Chân Phương vào thành dự tiệc.”

Vũ Uy vương hỏi vương phi:

– Em nghĩ thế nào?

– Rõ ràng hai lệnh chỉ này do Thúy Nga góp ý với chồng.

– !?!?!?

– Địa Lô chỉ đi theo sứ đoàn Cao ly chứ không phải người của sứ đoàn. Thế mà lệnh chỉ nêu đích danh Lô. Như vậy chủ tâm của Thúy Nga gả Vương Chân Phương cho Lô đã hiện rõ. Hôm trước Thúy Nga đã nói trước rồi mà Lô không gần Thúy Nga nhiều, nên Lô cho rằng nàng đùa. Không phải vậy, Nga chín chắn, hành sự cẩn trọng, nói là làm. Bây giờ Nga thực hiện.

Trí nhớ của Địa Lôû trở lại những ngày đầu theo quân đánh giặc, gặp Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang, Địa Hành, kết làm anh em. Cả năm đã quỳ gối khấn Quốc tổ rồi đưa ra lời thề:

“ Một là trung với Xã tắc,
Hai là xả thân cứu nước,
Ba là phẩm giá, đạo đức,
Bốn là tài trí, dũng, mưu,
Năm là hiếu kính phụ mẫu”.

Hùng khí bốc lên rừng rực trong người, Tử nghĩ thầm: nếu bây giờ cưới vợ thì còn tâm trí đâu mà thực hiện năm cương vực trên? Còn Như Lan, bao giờ mình quên được nàng? Tử dẫy như đỉa phải vôi:

– Không lẽ Thúy Nga hại thần như vậy sao?

Vũ Uy vương phân giải:

– Vì cháu chưa muốn lấy vợ, để tâm trí lo việc nước thì cháu nghĩ vậy. Còn Thúy Nga, nàng nghĩ khác: nữ thập tam, nam thập lục. Theo luật âm dương của trời đất trai khôn, gái lớn thì phải thành gia thất. Nay tuổi cháu đã 22 rồi, mà vẫn chưa vợ, cháu bị thất tình với Như Lan. Bây giờ trước mắt, Nga thấy Vương Chân Phương sắc nước hương trời thì gả cho cháu. Đó là thiện ý chứ không phải ác ý.

– Thần biết là thiện ý! Làm sao bây giờ?

Vương phi cười khúc khích:

– Giữa trận tiền, hàng vạn Lôi kỵ, cung dương tên bay, mà cháu vẫn xung vào chiến đấu, thế mà nay nghe thấy lấy vợ thì nhảy choi choi, sợ hết hồn hết vía là lý do gì vậy? Nếu thím là Thúy Nga, thím cũng làm như cô nàng.

Vũ Uy vương phì cười:

– Đối với sắc đẹp của Vương Chân Phương thì anh hùng thiên hạ đều ao ước. Còn cháu thì lại sợ. Dịp may trên đời không nhiều, nhưng cháu từ chối. Thôi mặc cháu. Cháu vốn nhiều mưu lắm mẹo, cháu tự giải quyết lấy. Đừng để mất Chân Phương như mất Như Lan.

Vương phi hỏi Địa Lô:

– Lô có thấy hai sự bất thường trong tờ thư không?

– Thưa thần biết. Một là tại sao bà Trần Hy Hà đang là vương phi Ngột Lương Hợp Thai, bây giờ lại cùng đi với thái tử Tây hạ. Thái tử này là cháu gọi bà bằng cô ruột. Hai là tại sao Vũ sơn Công Tạ Quốc Ninh với Hoàng Hoa lại có mặt trong sứ đoàn Đại lý? Trong khi Công đang giúp kháng chiến Cần vương Đại lý phục quốc? Cao Mang đang giúp Hồi khởi binh đánh Mông cổ, mà sao cũng có mặt trong sứ đoàn Đại lý?

– Thắc mắc của Lô giống như thắc mắc của thím. Bây giờ mình đang có một vấn đề khó khăn. Trong sứ đoàn mình, hầu như tất cả đều là Phật tử thuần thành, nên không mang theo rượu. Mà trong buổi họp này A Lan Đáp Nhi muốn mình đem rượu Đại Việt ra đãi các sứ đoàn, làm sao bây giờ?

Địa Lô cười:

– Tất cả các sứ đoàn đều mời rượu. Thần thử tỷ dụ thôi, mỗi sứ đoàn mời một chung, trong buổi hội này có 18 sứ đoàn, thì ai mà chịu nổi 18 chung? Thần sợ tới chung thứ năm thì dù công lực cao như vương gia, vương phi cũng lăn đùng ra như Lý Bạch hết. Vậy thần đề nghị mình sẽ chế một loại thuốc nước giải rượu. Khi cử tọa uống tới chung thứ năm thì mình mời mỗi người một chung thuốc rã rượu.

Vũ Uy vương dơ ngón tay chỏ lên trời:

– Vậy Lô lo vụ này ngay đi!

Đến đó La An vào trình cho vương một ống thư:

– Có người mang đến ống thư này, nói rằng xin trao cho vương gia.

Vương mở ra, trao cho vương phi:

– Em coi này! Thư của Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc.

“ Báo cho vương gia biết. Phải lưu tâm đề phòng. Bọn Hán gian theo Hốt Tất Liệt vẫn không chịu thua. Chúng đang có mưu đồ lớn là giết chết hoặc khống chế ba nhân vật cầm đầu Câu khảo cục, và tất cả con tin của các nước chư hầu. Sau đó chiếm Yên kinh. Chiếm Yên kinh rồi một mặt chúng dùng binh phù ra lệnh cho các đạo binh, một mặt chúng mật báo cho Hốt Tất Liệt trốn khỏi Hoa lâm. Khi Hốt Tất Liệt tới Yên kinh, sẽ điều binh làm phản”.

Vương mừng chi xiết kể:

– Hai người này được mụ Trần Hy Hà dùng làm chân nay, nhưng mụ đâu biết rằng hai người luôn hướng về Đại Việt. Không biết mụ sẽ theo chồng hay theo Hốt Tất Liệt? Tin tức này thực đáng quý. Dù sao mình cũng phải đề phòng mụ.

Lại có thư của Hải Hiền:

“Bọn đầu bếp trong này đều là người của Hốt Tất Liệt để lại. Chúng nhận lệnh của bọn nào không rõ: trong buổi Khâm sứ đãi tiệc các sứ đoàn, sẽ có món canh Bát trân ngũ vị. Phải nấu món này với thuốc. Mục đích khống chế ba vị Khâm sứ cùng các con tin. Chúng sẽ khảo ba Khâm sứ để lấy binh phù của Đại hãn ra lệnh cho các binh đoàn. Chúng dùng con tin bắt các nước cùng cất quân phản Đại hãn. Vì bị Thị vệ kiểm soát, chúng không dám đưa thuốc vào một lúc, mà đem từng gói nhỏ một. Hiện chúng nhận được 10 gói.

Đính kèm một gói thuốc”.

Vũ Uy vương trao thư cho vương phi, Địa Lô đọc. Phi than:

– May thực! Nhờ hai nguồn tin này chúng ta biết trước âm mưu lớn, có thể làm rung động Trung nguyên. Vậy chúng ta phải hành động ra sao? Ta có hai đường lối hành động. Một là phá âm mưu của bọn chân tay Hốt Tất Liệt. Hai là không can thiệp vào.

Địa Lô bàn:

– Nếu ta phá âm mưu, thì Mông cổ vô sự. Có thể sau này Mông Ca sẽ thân cầm quân, hoặc sai một tướng khác đánh Tống. Quân, tướng Mông cổ ở Trung nguyên là của Hốt Tất Liệt, bị Mông Ca nghi ngờ, thì khó mà thắng. Trong khi Lý Đảm, Cao ly khởi binh đánh vào nách, Đại lý bùng lên ở phương Nam. Mông cổ sẽ bị suy tàn. Còn như ta không can thiệp vào thì Hốt Tất Liệt trở lại Trung nguyên, cất quân làm phản. Mông cổ sẽ có nội chiến ít ra hằng chục năm. Đại Việt ta nhân đó được một thời gian dài thái bình. Nhưng sứ đoàn Đại lý, Cao ly, Sơn Đông bị khống chế. Ba nơi này phải theo lệnh Hốt Tất Liệt trưng binh tạo phản.

Vương quyết định:

– Ta phải phá âm mưu này.

Vương phi trao gói thuốc cho Địa Lô:

– Cháu coi xem thuốc này tác dụng ra sao?

Địa Lô mở gói thuốc ra, chỉ vỏn vẹn có 5 vị. Tử đưa lên mũi ngửu ngửu, nếm nếm rồi nở nụ cười sảng khoái:

– A ha! Cổ nhân có câu thơ :

Chủ ý trồng hoa, hoa chẳng nở,
Vô tình tiếp liễu, liễu xanh um.

Vương phi Ý Ninh hỏi :

– Thuốc này là thuốc gì mà Lô vui mừng như vậy ?

– Thuốc này tên Hủ cân, nhuyễn cốt tán.

Phi giật mình :

– Hồi còn học ở Thần quang tự, có lần đứng hầu sư phụ với sư thúc Vô Aûnh, Vô Sắc, tôi có nghe các người bàn về loại thuốc này. Nguồn gốc ra sao ?

– Khải phi, thời Tống Thần tông trị vì, bên Đại Việt là thời vua Lý Nhân tông, niên hiệu Anh vũ chiêu thắng (1076), một danh y Tống đã tìm ra phương thuốc đặc biệt ; khi sắc lên, có mùi vị giống nước luộc gà. Ai uống phải thì dù nội công thâm hậu đến đâu, chân tay cũng trở thành vô lực trong bốn giờ liền (8 giờ ngày nay) ; mặc cho đối thủ muốn giết, muốn mổ, muốn băm vằm, muốn làm nhục thế nào cũng phải chịu. Võ lâm Trung nguyên thống hận vô cùng. Khi Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân đánh Đại Việt, một đại y sĩ Tống bị ta bắt, y có mang theo phương thuốc này. Bồ tát Minh Không nhân đó chế ra thuốc giải. Nhưng năm tháng trôi qua, thang thuốc này bị tuyệt tích, chỉ còn thang thuốc giải. Khi từ Cao ly sang đây thần đã nghe ngóng, tìm lại nó mà bặt vô âm tín. Không ngờ bây giờ lại thấy.

– Như vậy Hủ cân, nhuyễn cốt tán có giống như Ma tý hoàn, hay Lạc hồn tán của phái Sài sơn không ?

– Khải phi ! Hoàn toàn khác nhau. Ma tý hoàn khi bắn trúng người, thì trúng bộ phận nào, bộ phận đó tê trong một khắc. Thuốc dùng để giúp bệnh trấn áp cơn đau. Còn Lạc hồn tán thì khác, thuốc này hoặc dùng dưới dạng phấn, khi tung lên, ai hít phải thì mê man từ nửa giờ tới một giờ. Còn Hủ cân, nhuyễn cốt tán khi ăn vào thì thần chí vẫn tỉnh táo, hoạt động bình thường, duy chân tay vô lực như người già bị bệnh.

Vũ Uy vương hỏi:

– Cháu có nhớ phương thuốc giải không?

– Có. Cháu sẽ cho chế dưới dạng tán. Khi bị trúng Hủ cân, nhuyễn cốt tán, cho vào miệng nuốt, thì trong nửa khắc, sẽ hoàn toàn khỏi.

Đến đó Thị vệ báo:

– Có sứ quân Sơn Đông đến xin trị bệnh.

Vũ Uy vương, vương phi với Địa lô ra cổng đón.

Vương Văn Thống đi trước với Lý Đảm, phía sau vợ Đảm, em vợ Đảm là Vương Chân Phương, và con trai là Lý Nhan Giản.

Địa Lô nhìn Chân Phương: hôm nay nàng mặc bộ xiêm y Dương châu. Áo trong bằng lụa mầu hồng nhạt, áo ngoài, xiêm mầu tím. Trên mái tóc dắt một đóa hoa Đỗ quyên bằng ngọc đỏ chói. Bất giác tim tử đập thình thịch:

– Nếu như mình không có Như Lan, không phải lo quốc sự mà có người vợ thế này thì thực là hạnh phúc nhất trần gian.

Lễ nghi tất.

Vợ Lý Đảm khai:

– Thưa Đại phu, chiều hôm qua sau khi sắc thuốc cho trượng phu uống, thì toàn cơ thể người nóng bừng bừng, chân khí chạy rừng rực khắp cơ thể . Bữa cơm chiều người ăn gấp đôi thường ngày. Sáng hôm nay đã có thể dạy võ cho Nhan Giản.

Địa Lô chẩn mạch Lý Đảm rồi nói:

– Mừng cho vương gia. Cánh tay đã cử động được, nhưng chưa khỏi. Vương phi cho vương gia uống thuốc trong ba ngày nữa. Tôi tiếp tục châm cứu.

Mặc cho Địa Lô trị bệnh. Vương phi Ý Ninh mời Vương Văn Thống, với vợ Lý Đảm ra sau nhà. Phân ngôi chủ khách xong, phi hỏi Vương Văn Thống:

– Tôi có thể xin Tả Thừa tướng A Lan Đáp Nhi cho công tử Lý Nhan Giản trở về Sơn Đông. Như vậy liệu Lý vương gia có dám khởi binh không?

Vương Văn Thống kinh ngạc:

– Vương phi có thể làm được như vậy sao?

– Được chứ. Phi nói nhỏ: Tả Thừa tướng từng bị Tống bắt, chúng tôi giải cứu cho Thừa tướng. Còn Tham tri chính sư Thái Bình bị đệ tử của Hốt Tất Liệt bao vây, tính mệnh nguy trong đường tơ kẽ tóc, chính chúng tôi giải vây mới toàn mạng. Tham tri chính sự Ngột A Đa là em rể tôi.

Vương Văn Thống thở phào:

– Tuy Nhan Giản được về Sơn Đông, nhưng chúng tôi cần mấy năm để có thời giờ luyện quân, tích trữ lương thảo rồi mới khởi binh được.

Vương phi Ý Ninh tiếp:

– Tả Thừa tướng A Lan Đáp Nhi nhờ tôi chuyển lời tới Lý vương gia rằng trong buổi hội sắp tới phu nhân của người sẽ chuyển một lệnh chỉ mật cho Lý vương gia. Lý vương gia phải thi hành ngay không chần chờ.

Chiều hôm ấy, Vũ Uy vương, vương phi, Địa Lô cùng ngồi viết tấu chương gửi về Thăng long, tường trình hết mọi sự từ khi về tới Yên kinh. Nhất là nhấn mạnh đã thành công trong việc kết hợp Cao ly với sứ quân Lý Đảm. Tấu chương cũng thuật chi tiết thành công của Thanh Nga với Thúy Nga.

Ba ngày sau chim ưng mang chỉ dụ của triều đình lên. Nội dung chỉ dụ nhấn mạnh:

1. Khen ngợi sứ đoàn đã hoàn thành nhiệm vụ trao phó.

2. Triều đình gửi Dã Tượng, Yết Kiêu, Cao Mang theo sứ đoàn, để ba người:

– Nắm vững tình hình chung của Mông Cổ,
– Tập nói tiếng Hoa, tiếng Mông cổ,
– Biết rõ dân tình, quân tình Mông cổ.

3. Sứ đoàn cần gặp gỡ, nhắc nhở nhiệm vụ của Thất liên, Đông hoa. Bằng không họ được sủng ái, rồi say xưa trong cái ảo tưởng là đại phu nhân, mà quên nhiệm vụ chính.

Bốn ngày sau.

Trong thành Yên kinh, đại điện Quang minh trang trí cực kỳ tráng lệ. Trước điện, hai hàng Cấm vệ hoàng cung do Ô Mã Nhi, Toa Đô chỉ huy; gươm đao sáng ngời dàn ra uy nghiêm. Một viên Lang trung bộ Lễ phụ trách tiếp tân cùng với cung nga, thái giám. Cao nhất là bàn dành cho Khâm sứ Tả thừa tướng cùng hai Tham tri chính sự, ba đại phu nhân. Bàn này có 6 cung nga, 6 thái giám hầu tiệc.

Bên trái dành cho triều đình của Hốt Tất Liệt gồm Tả thừa tướng A Lý Hải Nha, Thân vương Giảo Kỳ quản Khu mật viện, Tuyên phủ ty gồm Thập lục thượng thư, Tham tri chính sự, Lang trung, Viên ngoại lang.

Bên phải có 18 khu, mỗi khu gồm ba bàn dành cho 18 sứ đoàn. Mỗi khu có 5 cung nga, 5 thái giám chầu hầu. Mới giờ thìn mà sáu sứ đoàn Tây liêu, Tây tạng, Kim, Liêu, Cao ly, Sơn Đông đã đến đầy đủ. Mỗi sứ đoàn có 20 tùy tùng.

Tiếng Thái giám kính sự hô:

– Sứ đoàn Đại lý đến. Trưởng đoàn là thái tử Đoàn Kha, chưa lập thái tử phi. Tháp tùng thái tử gồm Thái tử thái phó Tạ Quốc Ninh với phu nhân Lê Thị Phương Dung; Chiêu võ thượng tướng quân, Chiêu dương tử Cao Mang Tổng lĩnh Thị vệ. Tùy tùng có 20 người.

Tuy đi trong sứ đoàn Đại lý, nhưng Hoàng Liên lại mặc y phục Việt. Hai mắt của nàng được che bằng hai thanh ngọc mầu xanh lợt. Người ngoài nhìn tưởng đó là đồ trang sức. Một cung nữ trang phục quần áo hồng tới hành lễ, rồi mời tới vị trí dành cho sứ đoàn Đại lý. Chỗ của sứ đoàn Đại lý cạnh sứ đoàn Cao ly.

Địa Lô, Như Lan, Lê Linh Anh giới thiệu thái tử Điển, Lý Cán Đại với Tạ Quốc Ninh, Hoàng Liên, Cao Mang.

Như Lan, Linh Anh nắm tay Hoàng Liên:

– Bọn em được tin chị gặp nạn, trong lòng hết sức xót xa, căm hận. Hôm nay chúng em chia buồn với chị. Mắt chị tuy hỏng, nhưng chị vẫn đẹp như xưa. Tạ Quốc công vẫn sủng ái chị là được rồi.

Hoàng Liên cười:

– Tuy hai mắt chị hỏng, nhưng nhờ vậy mà chị được Vô Huyền Bồ tát thu làm đệ tử, được truyền Vô ngã tướng Thiền công, được truyền kiếm pháp Long biên.

Như Lan nghiến răng:

– Em xin hứa với chị rằng nếu vua Trưng linh thiêng, phù hộ cho em gặp mụ Hy Hà, em sẽ đường đường chính chính thách mụ đấu kiếm để trả thù cho chị.

Như Lan nói nhỏ:

– Em nghe nói chị đã luyện Mê linh kiếm pháp đến chỗ tinh diệu. Nếu gặp mụ Hy Hà, liệu chị có đủû sức trả thù không?

Cao Mang ngắt lời Như Lan:

– Nếu trong vòng 100 chiêu thì cô Hoàng thắng, còn ngoài trăm chiêu thì khó có thể thắng; vì cô còn trẻ, công lực so với mụ Hy Hà vạn lần không bằng.

Địa Lô hỏi Cao Mang :

– Anh ba ! Anh ba lĩnh mệnh sang Hồi quốc trợ giúp Thái tử khởi binh, sao lại là Tổng lĩnh Thị vệ Đại lý ?

– Khi anh cùng các đạo sư Cổ Mễ Linh, Sa Đa Hút San trở về Hồi quốc, thì cũng là lúc Thái tử đang bị bại trận rút vào rừng. Anh cùng đội võ sĩ Đại Việt huấn luyện cho nghĩa quân Hồi xử dụng Đao quất, Khiên mây. Nghĩa quân thình lình xuất trận, quân Mông cổ bị đánh tan. Nghĩa quân thừa thắng chiếm lại cố đô. Giúp Hồi như vậy tạm đủ, giữa lúc đó anh nhận được chỉ dụ triều đình sang giúp Đại lý. Anh đến Đại lý thì Hồng Nga nhận anh là anh em họ. Hồng Nga giới thiệu anh với A Truật. A Truật đang cần cài người vào triều đình bù nhìn Đại lý. Y bổ nhiệm anh làm Tổng lĩnh Thị vệ. Nhân Thái tử ở Yên kinh không có người phò tá. Y sai anh vào nhiệm vụ này. Khi mới tới đây anh định tìm sứ đoàn Đại Việt, yết kiến Vũ Uy vương. Nhưng thầy Tạ Quốc Ninh cản, vì sợ bọn mặt dơi tai chuột Hán pháp khám phá ra.

Hoàng Liên chưa kịp trả lời thì tiếng Thái giám Kính sự hô:

– Sứ đoàn Đại Việt đến. Trưởng đoàn là Vũ Uy vương, tháp tùng có vương phi Trần Ý Ninh. Tùy tùng gồm 10 người.

Cả điện ồn lên những tiếng bàn tán. Vì tất cả các sứ đoàn đều đã nghe nói Thái sư Ngột Lương Hợp Thai cùng phò mã Hoài Đô, con là đại tướng A Truật, mang 10 vạn Lôi kỵ Mông cổ, 10 vạn hàng binh Đại lý sang dánh Đại Việt, bị phá tan, bỏ chạy về Vân Nam. Vũ Uy vương là một trong năm vị tướng thống lĩnh binh Đại Việt. Họ cũng nghe vương phi Ý Ninh, kiếm thuật thần thông đã đả bại A Truật. Người người mở to mắt nhìn. Trước mặt họ, một nam tử thân thể hùng vỹ, phong lưu tiêu sái, đi cạnh một thiếu nữ sắc nước hương trời.

Chỗ ngồi của sứ đoàn Việt cạnh sứ đoàn Cao ly, Đại lý. Ba sứù đoàn chào hỏi nhau. Vương phi Ý Ninh liếc mắt nhìn, thấy đôi mắt Như Lan ẩn hiện cái gì thê lương, tuyệt không một chút tươi hồng của cô dâu mới. Phi nắm tay Như Lan:

– Vạn vạn lần chị cũng không thể tưởng tượng rằng Công chúa thành Thái tử phi, nay mai sẽ là hoàng hậu Cao ly. Mừng cho em.

Như Lan đưa mắt nhìn Địa Lô:

– Vì tuân chỉ dụ của vua Cao ly, của phụ vương, em phải gạt nước mắt đi làm thái tử phi. Cũng như Thanh Nga đi làm phu nhân Ngột A Đa vậy. Em… em tuy làm thái tử phi, mà lòng chỉ nghĩ đến anh Địa Lô.

Ngược lại với Như Lan, Lê Linh Anh cười tươi như đóa hoa nhài óng ánh sương mai, sắc diện đầy vẻ thỏa mãn. Nàng chỉ Lý Cán Đại:

– Trước đây sư phụ Huệ Đăng có nói: vợ chồng thì một là duyên, hai là nợ. Em nghĩ kiếp trước chắc em là ni cô, gõ thủng 18 cái mõ, nên kiếp này mới được làm vợ cái anh đầy bụng chữ nghĩa này.

Nàng cười dòn như thác nước:

– Lắm lúc nghĩ lại, em tưởng mình nằm mơ! Có ai đời một con bé nhà nghèo, bẩy tuổi phải học chăn trâu, mười tuổi học cấy lúa. Suốt ngày làm quần quật mà không đủ ăn. Thế rồi trở thành tướng trâu, rồi thành vệ úy, thành tá lĩnh, thành quận chúa, cuối cùng thành đại phu nhân. Đại phu nhân em cũng không cảm thấy hạnh phúc bằng ông chồng sủng ái em cùng cực. Ông chồng sủng ái em cũng không hãnh diện bằng được bố mẹ chồng yêu thương vô bờ bến.

Địa Lô hỏi sẽ Tạ Quốc Ninh:

– Thầy trở thành Thái tử Thái phó Đại lý từ bao giờ vậy?

– Trấn Nam vương Đoàn Hưng Trí là chú của thái tử . Người tâu xin đức vua mời tôi dạy thái tử. Nhân thái tử đi làm con tin, người muốn tôi tháp tùng thái tử vì tôi biết nói tiếng Mông cổ.

Tạ Quốc Ninh hỏi vương phi Ý Ninh:

– Vương phi! Từ khi rời Đại Việt, vương phi mang theo một đội Mê linh kiếm trận, gồm mười cao thủ thượng thừa, nhưng chưa bao giờ dùng đến. Không biết hôm nay lành dữ thế nào mà vương phi lại đem theo ?

– Sáng nay tôi được tin của Vũ Cao San, Trần Định Quốc cho biết rằng phải đề phòng cẩn thận, vì có thể chân tay của Hốt Tất Liệt sẽ ám toán ba thống lĩnh của Câu khảo cục hoặc các con tin. Tôi mang theo toán Kiếm trận, biết đâu sẽ cần tới.

Tiếng thái giám kính sự oang oang:

– Thái tử Tây hạ và cô mẫu trưởng công chúa Trần Hy Hà đến.

Mụ Trần Hy Hà đi trước, tiếp theo là Thái tử Tây hạ tuổi trên 40, cùng thái tử phi, và 20 tùy tùng được mời vào khu dành riêng. Trong 20 tùy tùng, có Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc.

Địa Lô than:

– Ái chà, Tây hạ mang theo đến 20 đại cao thủ ắt có chủ ý gì đây.

Nghe tiếng xướng, Hoàng Liên chấn động tâm tư, chân tay run run: kẻ thù đang ở trước mặt.

Địa Lô nói với Vũ Uy vương:

– Vương gia! Dường như có gì bất thường. Bà Trần Hy Hà đường đường là chánh phi của thân vương Ngột Lương Hợp Thai, tại sao bà lại đến đây với tư cách trưởng công chúa Tây hạ?

– Khó hiểu. Đợi lát nữa mình hỏi Thúy Nga, hay Thanh Nga thì có thể biết được.

Như Lan nói với Địa Lô:

– Anh tìm cách cho em đấu kiếm với mụ Hy Hà, để em đâm thủng mắt, cắt gân chân tay mụ, trả thù cho chị Hoàng Liên.

Tạ Quốc Ninh lắc đầu:

– Công chúa ơi! Mụ này xử dụng kiếm pháp Thiên sơn tới trình độ thượng thừa. Năm trước đây Thái úy Chu Anh của Đại lý đánh bại bọn Cao Bằng Tiêu, Lưu Hắc Mã dễ dàng, thế mà ông ta đấu với mụ đến hiệp thứ 42 thì bị thương. Công lực của mụ thâm hậu không thể tưởng được. Muốn trị mụ phải dùng kiếm pháp Mê linh. Nếu vương phi Ý Ninh chịu xuất thủ thì có hy vọng.

Tiếng Thái giám Kính sự lại oang oang:

– Tả Thừa tướng A Lý Hải Nha, cùng Thập lục thượng thư, Quản Khu mật viện tới.

Một đoàn hơn 50 người y phục khác hẳn Mông cổ cùng vào điện. Địa Lô than:

– Đám này mặc y phục gần giống với Tống, pha Đường.

Cử tọa cùng đứng lên cúi đầu chào. Thái giám Kính sự mời cả triều đình của Hốt Tất Liệt vào chỗ ngồi.

Thái giám Kính sự lại xướng:

– Khâm sứ của Đại hãn là Tham tri chính sự Ngột A Đa, và Lưu Thái Bình tới.

Ngột A Đa, Lưu Thái Bình sóng vai đi ra, phía sau Thanh Nga trong y phục công chúa Đại Việt, với Từ Bích vợ Lưu Thái Bình trong trang phục Dương châu. Cử tọa đứng lên vái chào. Hai người ngồi vào ghế. Thanh Nga không ngồi vào ghế vội, nàng đi một vòng chào hỏi từng phu nhân các sứ đoàn.

Ngay khi nhìn thấy Thanh Nga, toàn phái đoàn Sơn Đông, mặt nhìn mặt, rùng mình. Vương Văn Thống nói với Lý Đảm:

– Ôi! Thiếu nữ đẹp như tiên nữ, ca hát tuyệt vời đi cùng sứ đoàn Đại Việt lại chính là phu nhân của ngài Tham tri chính sự Ngột A Đa. À, thì ra Tham tri chính sự cho phu nhân âm thầm gặp mình để nhắn mình làm những điều người không thể công khai nói. Thế mà hôm trước mình không hiểu gì!

Vợ Lý Đảm nhắc chồng:

– Hôm ấy phu nhân Tham tri chính sự đã dặn chúng mình rằng nếu sau này chúng mình gặp phu nhân ở nơi khác, thì phải lờ đi như chưa quen biết. Em cứ thắc mắc mãi về câu nói ấy. Bây giờ em mới hiểu!

Khi Thanh Nga đến trước phái đoàn Sơn Đông, nàng mỉm cười chào mọi người, rồi nheo mắt một cái. Nàng nói tiếng Hán bằng giọng Dương châu:

– Kính chào Vương tiên sinh. Kính chào sứ quân, kính chào phu nhân. Kính chào tiên nữ Vương Chân Phương.

Nàng nói với Lý Nhan Giản:

– Lý tiểu công tử! Mừng cho tiểu công tử sắp được về Sơn Đông đoàn tụ với phụ mẫu.

Câu nói của Thanh Nga khiến Lý Đảm mừng run lên:

– Vị phu nhân này báo cho mình biết Giản nhi được tha về rồi đấy.

Tới chỗ sứ đoàn Đại Việt, Thanh Nga quên mất mình là đại phu nhân, không phải hành lễ với ai, nàng vừa cung tay, thì vương phi Ý Ninh nhanh ý ho sẽ một tiếng, Thanh Nga buông tay xuống mỉm cười.

Một viên Tham tri bộ Lễ phất tay ra lệnh, ban nhạc trên trăm người tấu một bản hùng tráng. Tạ Quốc Ninh nói nhỏ với sứ đoàn Đại Việt, Cao ly:

– Bản hùng ca này được soạn vào thời Thành Cát Tư Hãn, ban nhạc chỉ tấu mỗi khi Tư Hãn thiết triều. Sau khi Tư Hãn băng hà, bản hùng ca lại được dùng cho các Đại hãn kế vị tấu khi thiết triều. Vì A Lan Đáp Nhi là Khâm sứ nên viên Tham tri bộ Lễ mới cho tấu bản này.

Bản nhạc dứt. Viên Tham tri bộ Lễ hô:

– Tả Thừa tướng bình chương chính sự, Khâm sứ của Đại hãn tới.

A Lan Đáp Nhi đi trước, phía sau Thúy Nga trong y phục công chúa Đại Việt.

Cử tọa cúi đầu hành lễ. A Lan Đáp Nhi vẫy tay:

– Miễn lễ.

A Lan Đáp Nhi về chỗ ngồi.

Thoáng nhìn thấy Thúy Nga, Lý Đảm mừng run lên:

– Ôi! Cô gái sắc nước hương trời trong sứ đoàn Việt, lại là vương phi Tả thừa tướng A Lan Đáp Nhi!

Thúy Ngần không về chỗ ngồi. Nàng đến từng sứ đoàn thăm hỏi. Khi đến chỗ sứ đoàn Sơn Đông, nàng sẽ nghiêng mình đáp lễ, rồi hỏi Vương Văn Thống bằng thổ âm Dương châu:

– Tiên sinh! Thứ nữ của người thực là Tây Thi, Dương phi tái thế. Tây Thi, Dương phi có sống dậy cũng không đẹp hơn. Xin hỏi tiên sinh: Vương nhị cô nương đã có nơi nào chưa?

– Thưa vương phi, tiểu nữ tuổi đôi tám có lẻ, nhưng vẫn còn là khuê nữ.

Thúy Nga mỉm cười:

– Tôi sẽ tìm một đấng quân tử văn võ toàn tài, lại có tay tiên phục dược để người thục nữ có nơi xứng đáng.

Chợt nhớ lại phong thái của vương phi Ý Ninh trên bến Bắc ngạn đối với Thanh Nga, Thúy Nga nghĩ thầm:

– Tại sao mình không học theo gương chị Ý Ninh, để thu phục nhân tâm.

Nghĩ vậy nàng nắm tay Vương Chân Phương:

– Vương tiểu muội! Em đi với chị.

Thấy con gái được một vị vương phi tài sắc sủng ái. Vương Văn Thống bảo con:

– Con đi với vương phi, cố học lấy tư cách của một giai nhân Đại Việt.

Chân Phương theo sau Thúy Nga.

Tại bàn dành cho Đại Việt, vương phi Ý Ninh nhìn Địa Lô:

– Cháu có mưu thánh cũng không thoát tay Thúy Nga đâu!

Địa Lô rùng mình an ủi:

– Thôi thì đành vậy. Dù sao cháu cũng có cô vợ gốc Dương châu, đẹp nhất thế gian.

Lô nhìn Như Lan:

– Sông có thể cạn, núi có thể mòn, chứ cháu không thể quên Như Lan.

Lời Lô nói lọt vào tai Như Lan, nàng rúng động tâm tư, ngây ngất nhìn người yêu, như muốn nói:

– Em cũng không thể quên anh!

Thúy Nga tới chỗ phái đoàn Đại Lý, nàng nắm lấy tay Hoàng Liên nói bằng tiếng Việt:

– Chị Hoàng Liên! Thúy Nga đây. Hồi ở Chiêu dương Nga gọi chị là chị. Bây giờ chị là phu nhân của thầy Tạ Quốc Ninh, thì Nga phải gọi chị là cô. Kính chào cô.

Hoàng Liên đáp lễ:

– Thúy Nga gọi tôi là chị hay là cô, thì tôi phải gọi Thúy Nga là vương phi. Thúy Nga ơi! Dù chị, dù cô, dù vương phi hay gì gì chăng nữa, chúng ta đều là con dân Đại Việt.

Thúy Nga tiếp:

– Cô biết không, Thúy Nga xin chồng ban lệnh chỉ gửi về Tây hạ yêu cầu Quốc vương Tây hạ cho mụ Hy Hà theo cháu đến đây, để Thúy Nga sẽ có dịp trả thù cho cô.

Hoàng Liên hỏi:

– Ủa!Mụ không còn ở Đại lý nữa sao?

– Sau vụ mụ cùng bọn Liêm Hy Hiến, Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu định hại Lưu Thái Bình không thành công. Khi đến Phù phong, Lưu phát lệnh chỉ truy lùng chúng, nhưng mụ trốn thoát về Đại lý với chồng. Ngột Lương Hợp Thai sợ vạ lây, y tống cổ mụ về Tây hạ. Em xui A Lan Đáp Nhi tâu về Hoa lâm vụ việc mụ là thủ phạm số một giúp Hốt Tất Liệt tách lãnh thổ phương Đông khỏi Mông cổ, đem quân làm phản. Triều Mông cổ tưởng đến công lao mụ từng lập từ thời Thành Cát Tư Hãn, ân xá tất cả tội trạng cho mụ. Tuy nhiên vẫn ban chỉ tước phẩm chánh phi của mụ. Bây giờ mụ không còn là vợ Ngột Lương Hợp Thai nữa, chỉ còn tước công chúa Tây hạ mà thôi.

Tới trước Vũ Uy vương, Thúy Nga vẫn dùng lễ với vương, vương phi. Nàng chỉ Địa Lô nói với Chân Phương:

– Để chị giới thiệu với muội muội: đây là Văn Bắc thượng tướng quân, tước phong Văn sơn tử. Người được tặng mỹ danh Nam thiên đệ nhất mỹ nam tử. Tám thuật xạ, ngự, thư, họa, nho, y, lý , số đều thông. Thế nhưng tuổi 22 rồi mà vẫn chưa có phu nhân.

Vương Chân Phương đẹp như bông hoa ngọc lan ban mai, môi hồng, ngực nở, lưng ong mắt phượng long lanh, đôi chân dài. Mỗi bước đi của nàng như trăm đóa hoa nở. Hầu như cả sảnh đường đều nhìn nàng không chớp mắt.

Dù đã gặp Chân Phương năm sáu lần, nhưng sắc đẹp của nàng cũng làm Địa Lô như người say sóng.

Vương Chân Phương mỉm cười tươi như hoa hải đường:

– Dạ! Thưa vương phi em đã biết một trong tám thuật của Vân sơn tử là phục dược.

Nàng liếc mắt, chớp chớp hai ba cái, khiến hồn phách Địa Lô bay phơi phới:

– Đa tạ đại phu đã trị dứt bệnh cho tỷ phu Lý Đảm. Tiểu muội muốn được thưởng lãm thất thuật còn lại của đại phu.

Vương phi Ý Ninh chỉ vào cái ống đeo bên lưng Địa Lô:

– Muội muội có biết không, trong khi trị bệnh cho Lý quân hầu tại nhà hàng Anh vũ, rồi tại khu Lan hoa, cái anh chàng này bị muội muội bắt mất hồn, nên y tương tư muội muội rồi lén vẽ hình muội muội dấu trong cái ống này.

Địa Lô giật bắn người lên. Tử tự hỏi:

– Mình âm thầm vẽ hình Chân Phương, làm sao mà bà thím này biết được? Là họa sĩ, thấy giai nhân không ai cầm nổi cảm hứng! Đó là lẽ thường. Mình vẽ hoàn toàn vì nghệ thuật, chứ mình có tình ý gì đâu? Tình nay lý gian, thôi thì đành chịu.

Tử mở ống ra. Ba phái đoàn Việt, Cao ly, Đại lý cùng ồ lên. Hình Chân Phương sống động như bên ngoài, nhưng y phục của nàng lại là y phục vùng Kinh Bắc Đại Việt. Thúy Nga cầm bức hình ngắm đi ngắm lại, rồi trao cho Chân Phương:

– Cái anh đẹp trai này vẽ hình cho muội muội, muội muội cầm lấy đi.

Chân Phương vái Địa Lô:

– Đa tạ đại phu.

Thúy Nga dẫn Chân Phương về chỗ ngồi dành cho vương phi.

Viên Tham tri bộ Lễ phất tay, ba hồi chiêng trống vang lừng. A Lan Đáp Nhi đứng dậy nói:

– Thưa các vị Đại thần, các Thái tử, Thế tử, Công tử,

Đại hãn được tin hoàng đệ là Đại vương Hốt Tất Liệt tạo phản. Nên người ban chỉ thành lập Câu khảo cục, phong cô gia lĩnh Khâm sứ đặc mệnh toàn quyền điều tra hư thực. Đại hãn cũng phong hai Tham tri chính sự Lưu Thái Bình, Ngột A Đa làm phó. Khi vào Trung nguyên, Câu khảo cục đã tìm ra 142 tội trạng của Đại vương. Sau khi điều tra kỹ Câu khảo cục thấy rằng sở dĩ Đại vương phạm 142 trọng tội là do bọn chân tay xui người dùng Hán pháp. Chúng khuyên Đại vương tách các vùng Đông phương như Tây hạ, Tây liêu, Cao ly, Kim, Liêu, Trung nguyên, Đại lý, Tây tạng, Đại Việt ra khỏi chính quốc Mông cổ, thành lập một nước mới; rồi đem quân làm phản, tiến về Hoa lâm. Vì vậy Câu khảo cục đã cách chức, xử tử hình hầu hết bọn này. Trong 142 trọng tội, quan trọng nhất là:

Thứ nhất: Tạo phản.

Thứ nhì: Tổ chức quan lại thành một triều đình riêng.

Thứ ba: Không có quyền mà phong chức tước cho chân tay, như một hoàng đế.

Thứ tư: Nhũng lạm, bắt các nước nộp vàng, bạc, châu, báu, lương tiền giữ làm của riêng.

Thứ năm: Giả lệnh chỉ các nước thần phục Đại hãn phải thi hành sáu điều:

  1. Một là đích thân quốc vương phải vào chầu,
  2. Hai là đem trưởng nam làm con tin,
  3. Ba là kê biên dân số,
  4. Bốn là phải chịu quân dịch,
  5. Năm là phải nộp thuế, lương thảo.
  6. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri)

Đối với quan chức của Đại hãn như các Bình chương chính sự hành tỉnh, các đại tướng cầm quân cũng phải gửi con về Yên kinh làm con tin. Mục đích của Đại vương là khi Đại vương cất quân làm phải, thì quốc vương các nước phải theo Đại vương. Đại vương sẽ trưng binh của các nước, tiến về chính quốc. Bằng không thì tính mệnh các trưởng tử sẽ khó toàn.

Lập tức cả đại điện ồn lên những lời bàn tán.

Lý Cán Đại nói với Vũ Uy vương:

– Tất cả Quốc vương các nước đều tuân theo sáu điều nhục nhã này. Đích thân vua vào chầu, mà có chầu Đại hãn đâu! Chầu Đại vương Hốt Tất Liệt đấy chứ. Các Quốc vương răm rắp đem trưởng tử đến Yên kinh làm con tin. Duy Đại Việt vì đánh bại Ngột Lương Hợp Thai, nên chẳng tuân theo bất cứ điều nào; duy gửi vương gia sang làm con tin. Nhưng dường như vụ gửi con tin là không thực, mà tiềm ẩn quốc kế gì đó.

—>Hồi thứ 74

Advertisements
This entry was posted in 10- ANH HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ. Bookmark the permalink.