ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.II: Hồi 69)

Hồi thứ sáu mươi chín
Quần lang chiến hổ,

Vương phi hỏi lại:

– Thứ phi bị gian nhân bắt cóc?

A Truật lắc đầu:

– Không biết sự thực ra sao.

Vũ Uy vương cau mày:

– Trong phủ Thái sư Thị vệ canh gác cực kỳ nghiêm cẩn, đến con chim cũng khó bay lọt, thì sao gian nhân có thể hành sự? Chúng tôi phải vào giúp vương gia điều tra mới được.

Vương với vương phi truyền lấy xe ra đi. Hoài Đô, A Truật cỡi ngựa dẫn đường ba chiếc xe. A Truật lệnh cho một Thị vệ phi ngựa báo với Ngột Lương Hợp Thai biết trước.

Từ khi Đại lý đầu hàng, Ngột Lương Hợp thai chiếm lĩnh cung Long tiên trong hoàng cung làm dinh thự riêng. Long tiên là tẩm cung của vua Đại lý, rất rộng, có hồ thủy tạ, có vườn Thượng uyển trồng không biết bao nhiêu kỳ hoa dị thảo. Đặc biệt trong vườn còn trồng 36 loại trà, đặc sản của Đại lý.

Đoàn người ngựa tới cung Long tiên thì đã thấy Ngột Lương Hợp Thai đứng trước cổng cung đón. Xung quanh cung, Thị vệ gươm đao sáng choang, canh gác cẩn mật.

Lễ nghi tất.

Vũ Uy vương lên tiếng trước:

– Nghe em A Truật nói rằng trong phủ Thái sư có sự cố. Truyện này ra sao?

Ngột Lương Hợp Thai buồn rười rượi:

– Vâng! Một sủng phi của tôi bị mất tích. Không biết nàng bị bắt cóc hay bỏ trốn. Nàng là người Việt ở Thăng long có tên Lê Thị Phương Dung, còn có tên là Hoàng Liên.

Rồi y thuật lại việc bắt Hoàng Hoa ra sao, đưa về Khâu Bắc thế nào, bị võ lâm Tống bắt rồi được An Hát San mua chuộc bọn Tống, đem về cho y. Từ khi tái hợp, vợ chồng cực kỳ hạnh phúc. Thế rồi hôm qua, y đi duyệt binh về thì không thấy nàng đâu. Y kết luận:

– Tôi hỏi cung nữ hầu cận thì chúng khai khi tiễn tôi ra cửa cung rồi, thì nàng thay y phục, nói rằng dạo chơi trong Ngự uyển.

– Có thể nào ác nhân đột nhập vào Ngự uyển bắt vương phi đi không?

– Vương phủ của tôi canh gác nghiêm mật, không lẽ gian nhân lọt vào bắt cóc nàng? Tôi nghĩ có thể nàng trốn đi chăng?

Thúy Trang góp ý:

– Thái sư ơi! Xin Thái sư bình tĩnh lại. Thái sư phải biết rằng cái việc vợ bỏ chồng đào tẩu dường như chưa từng xẩy ra trong các nước Đông phương như Cao ly, Trung nguyên, Đại lý, Đại Việt. Vả Lê thị đang là một cô gái ở Thăng long, một bước trở thành vương phi, lại được Thái sư sủng ái cùng cực. Hơn nữa gia cảnh nàng, cha mẹ nghèo khó. Chỉ cần một lượng vàng cũng dư sống đến hơn năm. Tôi nghe A Truật nói trong đêm tái hồi, Thái sư ban cho vương phi mười nén vàng (100 lượng). Vì vậy đối với vương phi, vương gia vừa là người tình, vừa là người chồng, vừa là ân nhân. Hiện nhị vị đang tuần trăng mật, vợ chồng ân ái mặn nồng, có đâu vương phi bỏ đi?

Vương phi Ý Ninh nhắc:

– Thái sư đã kiểm điểm lại phòng ngủ của vương phi chưa? Nếu như vương phi trốn đi, tất nàng đem theo nữ trang, y phục. Còn như nàng bị bắt cóc thì tất cả vẫn y nguyên.

– Ừ nhỉ! Người ngoài cuộc cờ bao giờ cũng tỉnh táo. Tôi bị xúc động mạnh nên không chú ý. Xin mời vương gia, vương phi dời gót vào dinh giúp tôi ý kiến cần thiết.

Vào trong cung, Ngột Lương Hợp Thai cùng cung nữ thân dẫn vương phi Ý Ninh vào phòng của Hoàng Liên.

Vương phi hỏi:

– Thường ngày y phục, nữ trang của vương phi để đâu?

Cung nữ chỉ cái tủ lớn:

– Y phục Hoàng vương phi để trong tủ này.

Hai cánh tủ đóng chặt, có khóa bên ngoài. Ý Ninh thấy bộ quần áo cánh treo ngay đầu dường, đây là bộ quần áo Hoàng Liên vẫn mặc khi ngủ, trong thời gian ở Văn sơn:

– Nhất định vương phi đi ra ngoài rồi bị bắt cóc, vì bộ quần áo Việt này là bộ quần áo ngủ. Nếu vương phi bị bắt ở đây thì bộ y phục ngủ mặc trên người chứ đâu có còn tại đầu giường?

Ngột Lương Hợp Thai sai phá cửa tủ. Hai cánh mở ra, bên trong mấy chục bộ quần áo, bộ thì xếp ngay ngắn, bộ thì treo. Cạnh đó là ba hộp nữ trang. Ngột Lương Hợp Thai mở nắp hộp ra, tất cả nữ trang y cho Hoàng Liên vẫn còn nguyên. Y hỏi Ý Ninh:

– Vương phi nghĩ sao?

– Nếu vương phi trốn đi thì sẽ mang nữ trang và ít nhất mấy bộ quần áo theo. Đây tất cả còn y nguyên thì rõ vương phi không trốn đi. Vương phi lại không bị bắt tại đây, vì vương phi mặc phẩm phục đi ra ngoài. Tôi giải đoán: vương phi thay y phục, mặc phẩm phục rồi đi đâu đó. Hoặc vương phi bị bắt, hoặc vương phi chưa về chăng?

Thúy Trang vẫn chưa hết thắc mắc:

– Thái sư đã hỏi binh canh chưa? Nếu như vương phi đi đâu thì phải gọi mã phu, thị vệ đi theo chứ?

– Từ hôm Hoàng Liên trở về đây, nàng thích dùng xe ngựa thăm thắng cảnh Côn minh. Tôi đích thân đi với nàng. Còn như tôi bận thì mỗi lần đi nàng mang theo ít nhất hai cung nữ, bốn thị vệ, và một mã phu. Hôm qua khi duyệt binh trở về không thấy nàng, tôi hỏi mã phu, cung nữ, thị vệ, binh canh… tất cả đều nói: từ sáng sớm không ai thấy nàng đâu.

Hồng Nga tiếp:

– Khải phụ thân, như vậy vương phi không ra cửa thì vương phi dạo chơi trong Ngự uyển rồi bị bắt cóc chăng?

A Truật cãi:

– Trong vương phủ này, xung quanh cung Long tiên Thị vệ canh gác cẩn mật. Ngoài sân lại có chó gác. Người lạ không thể đột nhập vào.

Vương phi Ý Ninh phân tích:

– Gian nhân bắt vương phi Hoàng Liên phải là người có ba điều kiện. Một là bản lĩnh võ công cao cường. Hai là phải thông thạo đường lối trong cung. Ba là chó canh phòng quen biết y.

Vũ Uy vương đề nghị:

– Quân gian bắt vương phi chắc chưa đưa đi xa. Xin Thái sư cho chó ngửi y phục vương phi, rồi sai Cẩu binh dẫn chó đi khắp hang cùng, ngõ hẻm, hy vọng tìm ra nơi chúng giam người. Tôi có mang theo 12 chim ưng, chúng đều biết mặt vương phi, để tôi sai chúng bay lượn quanh đây, nếu thấy vương phi, chúng sẽ báo cho tôi biết.

Hồng Nga, Thúy Nga cùng nhìn nhau, như muốn nói riêng thầm: trường hợp này hơi giống vụ Thanh Nga bị Ngột A Đa bắt.

Rời cung Long tiên trở về Quán sứ, vương hỏi vương phi:

– Em có thấy gì khác lạ không?

– Hoàng Liên bỏ trốn chứ không phải bị bắt cóc.

– !!!?!!!?

– Khi rời Văn sơn ra đi, Linh văn thất liên được triều đình ban cho mỗi người hai bộ phẩm phục Quận chúa, cùng nữ trang. Mỗi nàng còn có 5-6 bộ y phục Đại Việt, bao gồm những bộ mặc khi múa hát, khi nghỉ ngơi. Thế mà trong tủ không thấy bất cứ một món gì còn lại. Như vậy nàng trốn đi, khi trốn nàng chỉ mang những gì của mình mà không mang y phục Đại lý, Mông cổ, nữ trang mà Ngột Lương Hợp Thai tặng cho.

– Lý của em không vững! Chúng mình đã biết rất rõ về Hoàng Hoa. Thứ nhất, cô nàng là người tham lam, bố mẹ lại nghèo, thế tại sao khi trốn đi nàng không mang vàng, ngọc Ngột Lương Hợp Thai cho? Thứ nhì, suốt thời gian từ khi gặp Dã Tượng ở Trấn trì, cho đến lúc về Văn sơn, lúc nào cô nàng cũng tưởng nhớ đến Ngột Lương Hợp Thai, mà không đoái hoài đến Vũ sơn hầu là chồng chính thức. Nay nàng được ở cạnh Ngột Lương Hợp Thai, thì là điều nàng cầu mong. Tại sao nàng trốn đi? Thứ ba, nàng trốn, thì trốn đi đâu? Thân gái dặm trường? Trốn về Đại Việt ư, nàng đang thi hành sứ mệnh triều đình trao cho, mà bỏ trốn thì cả nhà sẽ bị chết chém, nàng sẽ bị voi dầy, ngựa xé. Còn như trốn lại ở Đại lý, thì ai chứa? Đất khách quê người, sống với ai? Cái mấu chốt của vấn đề là tại sao nàng không mang vàng bạc, nữ trang theo?

– Trong năm ngày nữa, Hồng Nga, Thúy Trang tới đây từ biệt mình, mình phải hỏi cho ra lẽ.

Trong suốt năm ngày, La An thả chim ưng bay quanh Côn minh tìm kiếm mà tuyệt không thấy tin tức Hoàng Liên. Năm ngày sau, khi bình minh ló dạng thì Hồng Nga, Thúy Trang đến. Vương phi hỏi:

– Các em thu lượm được tin tức gì về Hoàng Hoa không?

Hồng Nga than:

– Ngột Lương Hợp Thai họp bộ hạ thân tín. Y nghi Hoài Đô bắt Hoàng Liên để ra điều kiện đòi cha con y phải bỏ Hốt Tất Liệt theo Mông Ca. A Truật không tin. Hiện Ngột Lương Hợp Thai trải người quanh Hoài Đô dò xét. Thúy Trang ở cạnh Hoài Đô, có thấy y điều động bộ hạ bắt Hoàng Hoa không?

Thúy Trang lắc đầu:

– Em dám quả quyết Hoài Đô không bắt Hoàng Liên. Chính Hoài Đô than với em rằng không biết ai đứng đằng sau vụ bắt cóc này. Không lẽ là Câu khảo cục? Em cãi lại rằng Câu khảo cục không làm điều đó. Vì Câu hảo cục do A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa cầm đầu, hai người có toàn quyền trong tay. Nếu muốn, họ có thể ra lệnh câu lưu cha con Ngột Lương Hợp Thai. Hoài Đô công nhận em có lý.

Thúy Trang tiếp:

– Em thấy Hoài Đô tỏ ra vui mừng, vì Ngột Lương Hợp Thai là một lão tướng, bạn thân của Hốt Tất Liệt. Hoài Đô được lệnh Đại hãn Mông Ca kiềm chế cha con Ngột Lương Hợp Thai, mà y không làm nổi. Bây giờ trong phủ đệ của Ngột Lương Hợp Thai canh gác nghiêm mật như vậy mà sủng phi bị bắt cóc đi, thì uy tín không còn nữa.

Hồng Ngát nói xẵng:

– Chị nghĩ, nhất định Hoài Đô làm. Em biết, mà em dấu chị. Lẽ nào Hoài Đô làm truyện tầy trời này, mà y cho em biết?

Thúy Trang bực mình:

– Em tuy nhỏ tuổi, nhưng chồng em sủng ái cực kỳ. Ngay từ đêm động phòng, y đã nói với em tất cả những kế hoạch giữ tướng sĩ Mông Cổ không cho Hốt Tất Liệt khống chế. Y lại muốn nhờ em nói với chị, để lôi kéo cha con Ngột Lương Hợp Thai nữa kia mà.

Thấy hai cô em mới lấy chồng, đang say tình, ai cũng bênh chồng mình, quên sứ mạng Tây Thi mà Đại Việt trao cho, có thể hỏng đại cuộc. Trước đây Vũ Uy vương đã tiên liệu khi đưa hai nàng về nhà chồng rồi, không ngờ vụ việc này xẩy ra quá sớm; vương phi Ý Ninh gọi hai nàng vào phòng kín:

– Trước khi đi, các em đã được giảng giải đầy đủ nhiệm vụ phải làm những gì. Các em hiện lĩnh danh dự một Quận chúa với sứ mệnh làm Tây Thi. Cha mẹ đang hưởng hồng ân nơi quê nhà. Một trong những nhiệm vụ các em là gây chia rẽ giữa Hốt Tất Liệt với Mông Ca. Tại đây bên Hốt Tất Liệt, đại diện là Ngột Lương Hợp Thai, A Truật; bên là Mông Ca mà đại diện là Hoài Đô. Bây giờ xẩy ra vụ Hoàng Hoa mất tích là dịp bằng vàng để chúng ta đổ dầu vào đám cháy Mông Ca, Hốt Tất Liệt. Các em là hai Tây Thi. Các em cần kéo Ngột Lương Hợp Thai xa Hốt Tất Liệt, khuyên Hốt Tất Liệt bỏ Trung nguyên về Mông cổ. Tại sao các em lại hành sử như bọn con gái quê mùa thất học, ích kỷ bênh chồng mình vô lý? Các em phải làm chủ trong truyện vợ chồng, tìm cách xen vào việc làm của chồng càng nhiều càng tốt. Các em là con cháu vua Trưng mà!

Hồng Nga tỉnh ngộ, nàng nắm tay Thúy Trang:

– Chị xin lỗi em. Bây giờ chúng ta nghe lệnh của vương gia.

Vũ Uy vương nói thực chậm:

– Bây giờ Hồng Nga nhân lúc chồng đang say tình thỏ thẻ tỏ ra tha thiết đến an nguy của bố chồng, của chồng mà than rằng:

“ Phụ thân là Thái sư, là Thân vương, cầm trọng binh trong tay. Anh là tướng tài, mà ngay trong phủ bị gian nhân bắt sủng phi của phụ thân. Ai gây ra vụ này? Hiện các nước quanh đây như Tây tạng, Đại lý, Đại Việt đều không thần phục ta cả rồi. Ví dù họ không thần phục, thì cũng không có khả năng làm. Rõ ràng vụ này do Đại hãn Mông Ca sai thủ hạ làm. Em lo nghĩ đến an nguy của phụ thân, của anh. Anh ơi! Xung đột giữa Đại hãn Mông Ca với Đại vương Hốt Tất Liệt là truyện anh em người ta tranh quyền. Bây giờ phụ thân với anh theo Hốt Tất Liệt, tương lai Đại vương bị hại, thì tính mệnh phụ thân khó toàn, mà anh với gia đình cũng bị vạ lây. Chi bằng ta nài nỉ phụ thân khuyên Đại vương về Hoa lâm phục mệnh. Đại vương đi thì phụ thân với anh sẽ nắm đại binh quyền vùng Đại lý này trong tay, phụ thân ngồi trên vua Đại lý. Tương lai ngôi vị này sẽ về tay anh. Ngay bây giờ khi Hốt Tất Liệt về Hoa lâm, Đại hãn Mông Ca biết rõ do phụ thân khuyên, người ắt trọng dụng phụ thân với anh”.

Còn Thúy Trang thì khuyên Hoài Đô rằng:

“ Anh ơi! Mình là người của Đại hãn, mình cần phải khuất phục lão tướng Ngột Lương Hợp Thai, khuyến dụ ông ấy bỏ Hốt Tất Liệt. Hiện con dâu ông ấy là Hồng Nga, bạn với em. Qua mối liên hệ ấy mình kéo A Truật. A Truật kéo bố. Nay cái vụ Hoàng Liên mất tích, mình cứ đổ cho bọn Câu Khảo cục để dọa y là xong”.

Vương phi nắm tay Hồng Nga, Thúy Trang:

– Hai em đều mang trọng trách tuyệt mật trong người. Bất cứ việc gì xẩy ra, bất cứ làm gì chị em cũng phải bàn với nhau. Nếu một trong hai em làm lộ nhiệm vụ mình thì tính mạng khó toàn, mà giữa Đại Việt với Mông cổ sẽ có chiến tranh, bố mẹ, gia đình cũng bị vạ lây.

Một Thái giám phi ngựa tới chắp tay nói với Hồng Nga:

– Xin phu nhân về ngay, chánh phi từ Yên kinh vừa tới.

Vương hỏi:

– Chánh phi là ai?

Hồng Nga đáp:

– Là thân mẫu của A Truật, bà là mẹ chồng em. Theo A Truật kể: bà là công chúa Tây hạ, nguyên phối của Ngột Lương Hợp Thai, do Thành Cát Tư Hãn cưới cho. Bà là một nữ tướng Kỵ binh dùng binh như thần, kiếm pháp thần thông. Bà có nhiều huân công với Mông cổ. Khuê danh của bà là Trần Hy Hà*. Hy Hà là tên con sông lớn nằm trên biên giới Tây Hạ với Trung Nguyên. Trần nghĩa là bụi chứ không phải họ Trần. Ngoài ra bà còn là một người tinh thông nhạc lý. Dù nhạc Trung nguyên, dù nhạc Mông cổ, dù nhạc Tây hạ, bà đều giỏi.

Phi hỏi:

– Liệu bà có gây rắc rối với em không?

– Em nghĩ là không. Theo A Truật nói bà là người có học thức rất rộng. Bà cùng một số danh sĩ Trung nguyên khuyên Hốt Tất Liệt dùng Hán pháp để an dân. Vì vậy người Hán mới theo Hốt Tất Liệt.

– Em có biết lý lịch bọn Hán cạnh Hốt Tất Liệt tên gì không?

– Em chỉ nghe nói những tên như Diêu Khu là quân sư. Các tướng tài như Liêm Hy Hiến, Cao Bằng Tiêu, Lưu Hắc Mã. Các tướng văn võ toàn tài, mưu trí tuyệt cao như A Lý Hải Nha, Ba Nhan, Lý Hằng. Hai tướng võ công vô địch là Toa Đô, Ô Mã Nhi.

Vương ban chỉ:

– Em cố dò hỏi lý lịch của bọn thủ hạ Hốt Tất Liệt về nguồn gốc, tài năng, gia cảnh, sở thích, tật xấu. Càng chi tiết càng tốt.

Hồng Nga, Thúy Trang vội bái biệt Vương, Vương phi lên xe vào thành ngay.

Hai hôm sau, chim ưng mang thư của Hồng Nga:

“ Khải vương gia! Em trở về thành thì A Truật dẫn em vào ra mắt bà Hy Hà. Bà ở trong phòng mà Hoàng Liên ở trước đây. Bà điều tra rất kỹ về Hoàng Liên. Bà than rằng ông chồng bà không tự trọng! Ai lại đường đường là Thân vương, mà đi nạp một con điếm làm thứ phi… Bà với em nói truyện bằng tiếng Trung nguyên vùng Lâm an. Bà biết em là Quận chúa Đại Việt giỏi ca múa, đàn hát, nội trợ khéo. Bà tát yêu em, ôm em rồi cho em một con phụng bằng bạc, dát viên bảo ngọc đỏ tươi. Em vào bếp làm giò, chả cá, bún chả Thăng long mời bà ăn. Bà thích lắm. Đi đâu bà cũng mang em theo. Bà giới thiệu em là Quận chúa Đại Việt.

Bà dành ra hai ngày cùng em đàm đạo về âm luật. Bà dạy em sử dụng đàn chậu, đàn nước. Sau khi nghe em hát Quan họ, Trống quân, Ả Đào, Xẩm. Bà đặt ra mấy bản hát Quan họ, Xẩm bằng tiếng Hoa Lâm an.

Bà tiết lộ rằng bà không muốn chồng con về Hoa lâm, mà phải cùng Hốt Tất Liệt, phất cờ tranh ngôi Đại hãn với Mông Ca”.

Vũ Uy vương than:

– Bà này xuất hiện là một trở ngại lớn cho ta! Làm sao đây?

Lại có thư của Tây Viễn vương:

“Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn không phải là sứ thần của triều đình Mông cổ. Hốt Tất Liệt mạo danh Mông Ca sai chúng đi. Việc đòi triều đình Đại Việt gửi con trưởng làm con tin do Hốt Tất Liệt đưa ra, chứ Mông Ca không biết gì. Vậy khi nào Vũ Uy vương lên đường vào Thục, báo cho tôi biết. Tôi cung cấp tin này cho hai con bé Thúy Nga, Thanh Nga. Chúng sẽ thúc A Lan Đáp Nhi, Ngột A Đa sai người đón đường câu lưu bọn sứ của Hốt Tất Liệt. Vũ Uy vương phải giả như không biết gì, cứ khai rằng lên đường đi Hoa lâm yết kiến Đại hãn Mông Ca”.

Vương phi Ý Ninh gửi thư cho Tây Viễn vương, thuật lại tất cả biến cố tại Côn minh.

Chiều hôm ấy, La An khải với Vũ Uy vương:

– Vương gia, chim ưng báo cho biết có người nhà mình đang ẩn thân ở Thiện xiển, về phía Bắc Côn minh khoảng 50 dặm, xin vương gia định liệu.

Vương hỏi vương phi:

– Em thử đoán xem, có thể là Hoàng Hoa không?

– Không lẽ. Anh với em phải đến xem là ai.

– Được.

Vương ban chỉ:

– La An, em phái cho ta một cặp chim ưng hộ tống dẫn đường đến chỗ người nhà mình.

– Vương đi bằng ngựa hay xe?

– Bằng ngựa, vì biết đâu người này ở trong vườn, trong rừng!

Vương, vương phi đeo kiếm vào lưng, rồi lên ngựa theo chim ưng dẫn đường.

Trời nhá nhem tối. Vương, vương phi rời khỏi thành Côn minh, đi về phía Bắc, vượt qua khoảng 45 dặm theo lộ lớn thì chim ưng dẫn vào con lộ nhỏ tới ngọn đồi, rồi lao xuống một căn nhà khang trang, nằm trên đỉnh. Bên trong căn nhà ánh đèn chiếu ra sáng rực. Ngọn đồi có lối lên rộng rãi. Vũ Uy vương cùng vương phi dấu ngựa vào khu cây cối rậm rạp, rồi tung mình lên một cây cao quan sát: căn nhà không tường bao bọc, cũng không hàng rào. Ngoài sân có 6 xe ngựa: hai cỗ tứ mã, bốn cỗ song mã. Thấp thoáng có hai người tay mang đoản đao đi đi lại lại canh gác. Phi bàn:

– Dường như trong nhà có cuộc họp gì đó. Những người họp đến từ xa bằng xe ngựa. Mình có nên đường đường chính chính xin vào gặp chủ nhân không?

– Không! Vì ta đâu biết chủ nhân là ai? Mình cần khống chế bọn canh gác, nghe ngóng trước đã.

Hai người buông cành cây đáp nhẹ nhàng xuống đất, rồi lần lên dốc đồi. Quan sát xung quanh sân: hai thiếu niên canh gác, tay lăm lăm đoản đao đứng trấn hai góc căn nhà. Vương ra hiệu cho vương phi. Phi móc túi lấy ra hai viên Lạc hồn phấn, vận âm kình hướng hai người bắn tới. Hai viên thuốc bay nhẹ nhàng, không tiếng động, tới trước mặt hai người thì tan thành bụi. Hai thiếu niên đang đi đi lại lại, thình lình thấy mùi hương thơm ngát, rồi chân tay bải hoải. Cả hai ngồi xuống bậc thềm, chìm vào giấc ngủ. Dấu hai người vào bụi hoa, vương phi tung mình lên nóc nhà, còn vương thì nép vào bụi hoa cạnh cửa sổ nghe ngóng.

Phi vận âm kình vào ngón tay chỏ, rồi xuyên thủng ngói, ghé mắt quan sát: trong căn phòng lớn, có tất cả 24 người. Nam có, nữ có, tăng có, tục có, già có, trẻ có. Họ cùng ngồi dưới nền nhà. Một người to lớn, trang phục vương tước Đại lý. Ông ta kể những nhục nhã mà dân Đại lý phải chịu từ khi nội thuộc Mông cổ. Cuối cùng ông ta kết luận:

– Bây giờ Hốt Tất Liệt đã về Quan trung. Y trao quyền cho Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A Truật. Ngột Lương Hợp Thai mới bị Đại Việt đánh bại. Quân số còn chưa quá 5 vạn. Trong 5 vạn thì bốn vạn là quân hỗn hợp nửa Mông cổ, nửa Đại lý, đóng xa Côn minh. Chỉ có vạn phu đóng tại Côn minh là thuần Mông cổ. Chúng ta còn đợi gì mà không khởi binh, tái lập nền tự chủ?

Ông ta quay lại hỏi một người râu dài, nhưng còn trẻ.

– Không biết Chu Thái úy có cao kiến gì không?

– Những điều mà vương gia nói, thần cũng như chư vị huynh đệ hiện diện đau đớn không thể tả siết. Than ôi! Núi khóc, sông rên. Vương gia ơi, khổ một điều là nhà vua, triều đình chịu lệ thuộc Mông cổ, chúng ta hô sĩ dân khởi binh không ai nghe theo, rồi lại bị chính quân triều đình đánh dẹp mới đau.

Nghe đến đây vương phi nhủ thầm:

– Thì ra người này là Chu Anh, lĩnh chức Thái úy triều đình Đại lý. Khi vua Đại lý là Đoàn Hưng Trí hàng Mông cổ, chịu lệ thuộc để tồn tại, thì ông cùng hoàng đệ là Đoàn Hưng Tín, Tể tướng Cao Minh phản đối, nhưng nhà vua không nghe. Người mặc vương phục kia chắc là Đoàn Hưng Tín đây.

Chu Anh quay lại nói với cử tọa:

– Hay là chúng ta ra tuyên cáo kể tội Đoàn Hưng Trí, phế bỏ y, tôn Trấn Nam vương lên làm hoàng đế, hô hào toàn dân khởi binh phục hồi chính thống.

Trấn Nam vương Đoàn Hưng Tín than:

– Như vậy thì chúng ta lại có nội chiến.

Ông ta hỏi một người ngồi cạnh:

– Cao đệ! Cao đệ nhiều mưu trí, Cao đệ nghĩ sao?

Vương phi Ý Ninh nhủ thầm:

– Người này chắc là Tể tướng Cao Minh đây.

Cao Minh trầm tư một lúc rồi bàn:

– Đầu tiên chúng ta phải tìm cách bỏ thuốc độc vào thức ăn của cha con Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô với Vạn phu Mông cổ tại Côn minh. Rồi Chu Thái úy suất lĩnh Ngự lâm quân chiếm Côn minh, phế Đoàn Hưng Trí, tôn vương gia lên ngôi cửu ngũ, ban hịch toàn dân đuổi giặc. Bấy giờ ta liên kết với Tống, Đại Việt thì lo gì không giữ được nước.

Chu Anh hỏi:

– Trước hết ta hãy bàn về việcï đánh thuốc độc. Tể tướng ắt có mưu gì?

– Bọn Mông cổ thích tụ họp uống rượu, nướng thịt ăn. Tôi kiếm cớ nay mời bọn chúng bọn chúng dự tiệc nướng thịt nai, mai mời dự tiệc nướng thịt bò. Riết rồi chúng thành quen, không nghi ngờ. Đến ngày khởi sự, mình mời tất cả tướng sĩ Mông cổ tới ăn thịt, uống rượu rồi bỏ thuốc độc vào rượu, vào thức ăn. Khi chúng trúng độc, ta kéo Ngự lâm quân thình lình giết chúng, chiếm thành, tôn Trấn Nam vương lên ngôi vua, ban hịch cần vương. Sau đó kết thân với Tống, Việt.

– Kết thân với Tống thì dễ rồi. Còn Đại Việt, làm thế nào mà liên kết với Đại Việt được?

Chu Anh cười:

– Tôi mới cứu được một người. Người đó tước phong Vũ sơn hầu tên Tạ Quốc Ninh. Hầu giữ chức Phó quản Khu mật viện Đại Việt. Hầu sắp bị võ sĩ của Ngột Lương Hợp Thai giết, thì chúng tôi ra tay cứu kịp. Chúng ta nhờ hầu làm cây cầu nối giữa Đại lý, Đại Việt.

Đoàn Hưng Tín hỏi:

– Hiện Tạ hầu ở đâu,

Chu Anh lên tiếng:

– Kính mời Tạ hầu ra tương kiến.

Tạ Quốc Ninh từ trong bước ra, cung tay:

– Đại Việt Tạ Quốc Ninh xin tham kiến chư vị anh hùng Đại lý, muôn vàn cảm tạ quý vị đã cứu mạng.

Đoàn Hưng Tín nhỏ nhẹ:

– Mời Tạ hầu an tọa. Xin Tạ hầu cho biết cơ duyên nào Tạ hầu lại hiện diện ở đây, rồi bị Ngột Lương Hợp Thai định sát hại?

Tạ Quốc Ninh tường thuật chi tiết về cuộc tiến quân của Mông cổ vào Đại Việt, rồi bị đánh bại. Cuối cùng là cuộc trao đổi tù binh. Triều đình Đại Việt cử Vũ Uy vương cầm đầu sứ đoàn sang Hoa lâm làm con tin. Nhưng khi sứ đoàn đang trên đường đến Côn minh, thì Vũ Uy vương phải lộn trở về giải quyết vụ ba châu Khâu Bắc, Văn sơn, Chiêu dương. Vương cử hầu đến Côn minh xin khất với Mông cổ rằng vương sẽ đến sau. Ngột Lương Hợp Thai trao cho hầu làm thông dịch tiếng Mông cổ, tiếng Việt. Y rất tin tưởng hầu. Thế rồi cách đây hơn tháng, y ra lệnh cho hầu vào Thành đô yết kiến Hốt Tất Liệt để nhận nhiệm vụ mới. Y sai hai võ tướng là Lưu Hắc Mã với Cao Bằng Tiêu theo hộ tống. Khi đi giữa đường thì thình lình chúng điểm huyệt hầu rồi đem vào rừng định giết chết. Trước khi giết chúng nói cho biết Ngột Lương Hợp Thai không hề sai hầu đi yết kiến Hốt Tất Liệt, mà mục đích giết hầu. Giữa lúc ấy thì đoàn võ sĩ Đại lý của Chu Anh xuất hiện, đánh đuổi chúng, cứu hầu.

Tể tướng Cao Minh hỏi:

– Hầu có biết tại sao Ngột Lương Hợp Thai đang tín nhiệm hầu, mà lại hạ độc thủ không?

– Tôi hoàn toàn không biết rõ?

– Vì người cơ thiếp của hầu.

– ?!?!?!

– Có phải hầu có người cơ thiếp tên Lê Thị Phương Dung, nghệ danh là Hoàng Hoa không? Nàng là một trong Tô lịch thất tiên không?

– Quả đúng thế. Khi Mông cổ vào Thăng long, nàng cùng sáu người bạn nữa bị Mông cổ bắt, rồi sau không có tin tức gì! Trong khi đi sứ, tôi nghe nói cả bẩy người bị đưa về Khâu Bắc trao cho bọn Thổ phỉ Thân Long Vân giữ.

Cao Minh vỗ vai Tạ Quốc Ninh an ủi:

– Sự việc như thế này: tiếng tăm tài sắc Tô lịch thất tiên vang tới Đại lý, Trung nguyên, Mông cổ. Nên khi sai Ngột Lương Hợp Thai đánh Đại Việt, Hốt Tất Liệt dặn phải tìm bắt cho được bẩy người này, đem về chia cho các thân vương . Vì vậy lúc Mông cổ vào Thăng long, chúng lùng bắt Tô lịch thất tiên, sai tỳ nữ hầu hạ, cung phụng như công chúa. Ngột Lương Hợp Thai chiếm Hoàng Hoa. Hoài Đô chiếm Bạch Hoa. A Truật chiếm Huyền Hoa. Sau khi Ngột Lương Hợp Thai bị bại trận, y chỉ giữ Hoàng Hoa, phong làm thứ phi. Còn lại y cống cho Hốt Tất Liệt.

Vương phi Ý Ninh nhủ thầm:

– Tin tức của Đại lý cũng khá, nhưng họ chỉ biết rất sơ lược.

Cao Minh tiếp:

– Trong khi hầu rời sứ đoàn đi Côn minh, thì Ngột Lương Hợp Thai sai người đem Hoàng Hoa về. Hoàng Hoa rất hãnh diện được Ngột Lương Hợp Thai tuyển làm thứ phi. Nàng biết rằng hầu cũng đang ở Côn minh. Sợ rằng người cũ xuất hiện có thể làm mất hạnh phúc đang có, nàng tìm cách giết hầu, cho khỏi chướng mắt. Vì vậy trong lúc đầu gối tay ấp với Ngột Lương Hợp Thai, nàng thố lộ thân thế rồi xin y cho nàng về với hầu.

Hưng Tín than:

– Thực là một con ác phụ! Táng tận lương tâm.

Một ni cô trong cử tọa hỏi:

– Khải vương gia! Nàng muốn về với chồng cũ là điều đáng khen, thì sao lại là táng tận lương tâm?

– Sư thái là người nhà Phật nên không hiểu được lòng dạ hiểm ác của con đàn bà này! Nếu thị xin Ngột Lương Hợp Thai giết hầu, thì y sẽ khinh bỉ nàng, và không ra tay. Đây y thị làm như còn tưởng nhớ người xưa, đòi tái hồi, thì Ngột Lương Hợp Thai phải giết tình địch.

– Không lẽ!

– Khi Ngột Lương Hợp Thai ra mật lệnh cho Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu, thì con ác phụ núp sau rèm nghe rõ. Y thị tìm cách gặp riêng hai tướng này rồi cho mỗi người một chiếc vòng ngọc, lại trao cho chúng một cái quần cũ của nàng. Thị dặn hai tướng rằng khi lên đường phải mang một con chó mực. Đợi khi giết hầu rồi thì giết chó mực lấy máu đổ lên xác hầu, lấy cái quần của thị úp lên đầu hầu trước khi chôn. Như vậy hầu chết rồi, hồn không rời khỏi xác, bị giam trong cái quần. Hầu không thể thành quỷ tìm thị đòi nợ.

Chu Anh xuất trong bọc ra một gói nhỏ trao cho Tạ Quốc Ninh:

– Đây là cái quần thị trao cho hai tướng Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu. Khi chúng tôi đánh bại chúng, chúng đào tẩu, để lại.

Tạ Quốc Ninh cầm cái túi mở ra, trong có chiếc quần bằng lụa Nghi tàm mầu vàng lợt. Trí nhớ giúp hầu nhận ra đây là chiếc quần Hoàng Hoa mặc trong đêm động phòng hoa chúc với hầu. Lòng hầu quặn đau, vạn vạn lần hầu không thể tưởng tượng được người vợ đầu gối tay ấp, mặn nồng biết bao, lại có thể trao thân cho kẻ thù của đất nước, rồi lại dùng kẻ thù giết chồng.

Chu Anh thở dài:

– Chắc hầu hỏi: làm thế nào chúng tôi biết những bí mật trong nội phủ của Ngột Lương Hợp Thai phải không?

– ?!?!?!

– Ngột Lương Hợp Thai chiếm cung Long tiên của Đoàn Hưng Trí làm phủ đệ. Y giữ luôn các cung nữ, thái giám lại. Y đâu biết rằng các cung nữ thái giám đó đều là người tôi tuyển dụng cho nhà vua. Vì vậy tôi âm thầm dùng họ để biết tin tức.

Chu Anh tiếp:

– Sau khi cứu hầu, chúng tôi biết hầu là đệ tử phái Sài sơn, rất giỏi về y học. Nhất là thuật hạ độc. Tôi nhờ hầu chế cho một số thuốc mê, mà hầu gọi là Lạc hồn phấn. Trả ơn cứu tử, hầu chế cho chúng tôi cả nghìn viên. Thuốc này khi đứng xa năm chục trượng, dùng thủ kình bắn ra, thuốc tan thành phấn, khiến người cũng như thú ngửi phải sẽ mê man trong vòng nửa giờ. Chúng tôi dùng Lạc hồn phấn làm thị vệ, chó canh gác cung Long tiên mê đi, bắt cóc Hoàng Hoa, để gây chia rẽ giữa, nghi ngờ giữa Ngột Lương Hợp Thai và Hoài Đô. Vụ bắt cóc thành công. Nhưng việc chia rẽ giữa hai tên Mông cổ này bị hai cô gái Việt làm hỏng! Hai cô đã giúp Hoài Đô, A Truật hòa với nhau.

Tạ Quốc Ninh tuy là người minh mẫn, nhưng nghe quần hùng Đại lý thuật các biến cố mà hầu không thể tưởng tượng nổi. Hầu như mê đi. Hầu hỏi:

– Hai cô gái Việt?

– Phải! Trong cuộc trao đồi tù binh, Hoài Đô, A Truật gặp năm cô gái trong sứ đoàn. A Truật say mê cô tên Hồng Nga. Hoài Đô say mê cô Thúy Trang. Ngột Lương Hợp Thai sai sứ sang xin Đại Việt hoàng đế gả hai cô này cho Hoài Đô, A Truật.

Quốc Ninh tỉnh ngộ:

– À chính Vũ Uy vương, vương phi với mình dàn cảnh cho Hồng Nga, Thúy Trang bắt nai. Trong thời gian mình sang Côn minh, Thành Đô, ở nhà đã cho hai con bé này đến đây, mà mình không biết.

Chu Anh tiếp:

– Vì là Thái úy, Tể tướng Đại lý, chúng tôi ra vào cung Long tiên dễ dàng. Dùng thuốc Lạc hồn phấn, chúng tôi làm cho chó cũng như thị vệ mê man, rồi bắt Hoàng Hoa đem đi. Khi bắt nàng chúng tôi cho mang hết y phục, nữ trang của thị mang từ Đại Việt sang, để cho Ngột Lương Hợp Thai hóa điên không biết thị bị bắt cóc hay trốn đi.

Tạ Quốc Ninh giật bắn người lên:

– Các vị giam Hoàng Hoa ở đâu?

– Chúng tôi giam thị khá xa trang trại này.Tôi đã ra lệnh đem thị đến đây. Có lẽ lát nữa hầu sẽ gặp thị. Chúng tôi thẩm vấn thị về sự xung đột giữa Ngột Lương Hợp Thai và Hoài Đô…

– Chắc nàng không khai!

– Sao hầu biết?

– Tôi là chồng nàng, tôi biết tính nàng cương cường, hay lý sự. Dù các vị dọa giết, tra khảo; thà chết nàng cũng không khai. Nàng có hai yếu điểm: một là sợ ma, hai là nàng coi sắc đẹp hơn tính mệnh. Muốn nàng khai, phải dọa ma, dọa hủy nhan sắc lập tức nàng khuất phục ngay.

Cao Minh cười lớn:

– Chúng tôi cũng dò biết được chi tiết này, nên đã chuẩn bị sẵn: vừa dọa ma, vừa dọa hủy sắc đẹp.

Thế rồi quần hùng Đại lý cùng Tạ Quốc Ninh thiết kế để tướng sĩ, võ lâm suất lĩnh dân chúng toàn quốc cùng khởi binh để Mông cổ phải phân binh đánh dẹp. Kế hoạch mang tên Quần lang chiến hổ. Nghĩa là dùng bầy sói, đánh một hổ. Họ xin Tạ Quốc Ninh chế cho một số thuốc, mùi thơm thơm như thịt quay, để ướp thịt nướng cho tướng sĩ Mông cổ ăn.

Hai tráng sĩ canh gác đã tỉnh. Cả hai ngơ ngơ ngác ngác nói với nhau:

– Tại sao chúng ta lại ngủ mê thế này?

– Gió mát, buồn ngủ thì có chi lạ?

Hai người lại cầm đao đi đi lại lại canh gác.

Cuộc họp giải tán. Mọi người lục tục lên năm cỗ xe xuống đồi, chỉ còn lại Chu Anh với Tạ Quốc Ninh.

Chu Anh mỉm cười hỏi Tạ Quốc Ninh:

– Bây giờ tôi mời phu nhân ra tương kiến với Tạ hầu. Chúng tôi đã thẩm vấn. Quả như hầu nói, phu nhân là người cương cường, hay lý sự. Khi bị bắt, chúng tôi thẩm vấn, phu nhân cương quyết không trả lời. Vì vậy tôi nghĩ: Lượng tiểu phi quân tử, vô độc bất trượng phu. Mời hầu sang phòng bên cạnh, chúng tôi sẽ áp dụng phương cách như hầu nói: dọa hủy sắc đẹp, dọa ma.

Ông lên tiếng gọi:

– Xong chưa?

Có tiếng đáp:

– Xong rồi.

– Hành sự đi.

Phòng phía sau mở rộng. Có ba nam hai nữ. Nhanh nhẹn, năm người khuân bàn, ghế, lư hương bầy ra giống như một phiên toà. Mười người bước vào, mới thoạt nhìn vương phi Ý Ninh phát rùng mình, tưởng đâu là ma quỷ: họ trang phục kỳ dị, kẻ mặt xanh, người mặt đen, có người mặt đỏ. Có người đầu giống đầu trâu, có người mặt giống mặt ngựa. Họ đứng làm hai hàng. Chu Anh mặc y phục như một ông vua ngồi trên ghế chính giữa.

Hai người mặc y phục như Quỷ Vô Thường hô:

– Khải Đại Vương, thần đã đến Côn minh bắt hồn Lê Thị Phương Dung hầu tòa.

Một thiếu nữ mặc võ phục dẫn Hoàng Hoa đẩy cửa hông bước vào. Hoàng Hoa bị bịt mắt bằng cái khăn mầu đỏ. Nàng vẫn đanh đá nói bằng tiếng Việt :

– Bọn mọi rợ Đại lý. Các người đưa ta đi đâu đây ?

Thiếu nữ cũng trả lời bằng tiếng Việt âm lơ lớ :

– Chúng tôi là quỷ Vô Thường, được lệnh Diêm vương lên trần bắt hồn phu nhân. Phu nhân chết rồi, hiện đang ở Âm ty. Đây là phòng xử của Đệ Nhất vương. Phu nhân cứ ngồi chờ, Diêm vương sẽ xử tội phu nhân bây giờ.

Nói rồi nàng cởi khăn bịt mặt Hoàng Hoa ra. Trong ánh sáng mờ ảo, Hoàng Hoa nhìn cảnh tượng, nàng rùng mình hét lên :

– Ôi Quỷ.

Chân tay run lẩy bẩy, hai hàm răng đánh vào nhu lộp cộp. Thiếu nữ nói tiếng Việt chỉ vào Diêm Vương, Thập Quỷ :

– Đúng vậy ! Đây là Âm ty. Âm ty do Thập Đại Diêm Vương cai quản. Phiên tòa này do Đệ Nhất Vương xử. Kia là Quỷ Vô Thường, kia là Quỷ Đầu Trâu, kia là Quỷ Mặt Ngựa… Mau quỳ xuống.

Hoàng Hoa run lập cập, vội quỳ gối. Nhưng vẫn lý sự :

– Tôi tội gì mà Diêm vương xử tôi ?

Diêm Vương (giả) phán :

– Hà ! Mi nhiều tội lắm. Chồng của mi là Tạ Quốc Ninh, tước Vũ sơn hầu của Đại Việt chết cách nay hơn tháng. Y kiện mi về 4 tội : Tội thứ nhất là bất trinh. Vì chồng còn sống sờ sờ mà đã trao thân cho giặc Mông cổ kẻ thù của chồng. Theo luật Âm phủ thì phải tội quẳng vào vạc dầu. Tội thứ nhì là theo giặc, kẻ thù của nước, theo luật Âm phủ thì phải mổ bụng lôi ruột cho thú ăn, rồi nhồi trấu vào.

Hoàng Hoa cãi:

– Hai tội này, tôi đã bị đem ra xử tại tòa Bắc cương họp ở Văn sơn năm trước. Tôi bị kết án voi dầy, nhưng Tuyên minh Thái hoàng Thái hậu đã ân xá cho tôi rồi. Theo luật Đại Việt, khi một người phạm tội đã xử chung thẩm rồi thì không thể bị xử lần thứ nhì.

Diêm Vương (giả) gật đầu:

– Được! Coi như hai tội này đã xong. Còn tội thứ ba là xúi giặc sát thân phu. Tội này phải xử lăng trì, tức xẻo từng miếng thịt. Tội thứ tư là yểm để linh hồn chồng bị giam dưới mộ. Tội này phải xử rút gân.

Tượng 5 trong Thập đại Diêm vương.
Hình chụp tại Huyền Thiên Trấn Vũ tự, Hà Nội.

Hoàng Hoa run lập cập :

– Có phải đây là Âm phủ không ?

– Phải.

– Thế tôi chết rồi à ?

– Dĩ nhiên. Ta sai quỷ Vô Thường bắt hồn mi xuống đây hầu tòa. Xác mi bị Ngột Lương Hợp Thai đem thiêu, xương, thịt hóa ra tro rồi. Hai tội trên mi có nhận không ?

– Tôi nhận. Xin Đại Vương ân xá cho tôi một vài bậc.

– Ừ ! Mi nhận tội rồi phải không ? Bây giờ mi phải khai tất cả bất hòa giữa Mông Ca với Hốt Tất Liệt, giữa Ngột Lương Hợp Thai với Hoài Đô.

Tuy bị dọa ma, dọa quỷ, nhưng bao nhiêu hạnh của vương phi Ý Ninh do Mật tông truyền vào người vẫn không bị che lấp hết, Hoàng Hoa nghĩ thầm :

– Ta cứ khai thực, việc này chỉ hại cho Mông cổ, chứ không hại cho Đại Việt. Dù Diêm Vương có báo cho bọn Đại lý biết rõ tình hình, thì chúng thắng Mông cổ dễ dàng. Mông cổ bại thì lợi cho Đại Việt.

Nàng khai hết những gì Khu mật viện Đại Việt giảng cho nàng tại Văn sơn, trước khi lên đường.

Thấy nàng khai tuốt tuột tuồn tuốt cơ mật của Mông cổ, Diêm Vương hài lòng. Phán :

– Vì mi khai thực. Tòa sẽ ban cho mi hồng ân. Trước khi bãi tòa, mi có điều gì cầu khẩn không?

– Xin Đại Vương cho con được về trần thế, được gặp lại Tạ Quốc Ninh, sống lâu đến trăm tuổi. Khi chết, không bị chết đau đớn.

– Mi tham quá ! Xác mi bị thiêu rồi, ta sẽ cho mi đầu thai làm một cô gái xấu xí, răng vổ, mắt lé (lác), mặt rỗ, béo ị như con lợn.

– Oái ! Oái ! Nếu đầu thai mà xấu xí như vậy thà đầu thai làm chó, làm mèo sướng hơn. Xin Đại vương cho con đầu thai có sắc đẹp như kiếp này.

– Mi cũng khôn quá. Được ! Vì mi thành khẩn khai báo, tòa tha cho tất cả bốn tội. Ta sẽ làm phép vào tro xương, để mi sống lại đẹp như xưa. Nếu sau này toà cần biết tin tức Mông cổ, tòa sẽ sai Quỷ Vô Thường gặp mi. Mi phải khai đầy đủ. Bằng khai láo sẽ bị bắt hồn ngay, bị cho vào vạc dầu.

– Xin tuân chỉ Đại Vương.

– Tòa thuận lời cầu khẩn của mi. Tòa cho oan hồn của Tạ Quốc Ninh gặp mi. Mi chuẩn bị miệng lưỡi mà trả lời chồng.

Diêm Vương truyền :

– Cho gọi Tạ Quốc Ninh hầu tòa.

Tạ Quốc Ninh từ trong bước ra, ông quên cả hành lễ với Diêm Vương giả. Ông hỏi Hoàng Hoa :

– Hoàng Hoa, em có nhận ra ai không ?

– Sao lại không ? Ông có phải là Vũ sơn hầu Tạ Quốc Ninh của cái nước Giao chỉ nhỏ bằng hạt vừng hạt đậu không ?

Tạ Quốc Ninh kiên nhẫn:

– Ta với nàng đều là thần dân Đại Việt. Chúng ta là con Rồng, cháu Tiên. Hà cớ nàng lại nhục mạ Đại Việt, trong đó có ông bà, cha mẹ nàng ?

Trước lời lẽ ngọt ngào của chồng, Hoàng Hoa lấm lét nhìn Diêm Vương không trả lời.

Tạ Hầu vẫn ngọt ngào :

– Nàng với ta từng là vợ chồng, ân nghĩa sâu đậm, sao nàng lại phụ ta, lại còn muốn giết ta mới thỏa lòng ?

– Tôi là ca kĩ, không cần biết Tam cương, Ngũ thường. Cũng chẳng cần biết tình nghiã gì hết ráo. Ông có tiền, cưới tôi về làm vợ. Thái sư Ngột Lương Hợp Thai có nhiều vàng hơn ông, thì tôi theo người. Ông chỉ là tước hầu của cái nước bé xíu. Còn Ngột Lương Hợp Thai là thân vương của một đại quốc. Từ lúc tôi tới đây, phải chứng kiến mỗi lần ông thấy ngài thì quỳ gối rập đầu. Ngài tuyển tôi làm thứ phi, tôi không muốn mỗi lần ông gặp tôi, ông phải phủ phục dưới váy tôi, nên tôi phải giết ông đi cho khỏi chướng mắt.

Diêm Vương (giả) quát:

– Câm họng ! Đây là Âm phủ mi không được lăng nhục chồng. Quỷ đâu !

– Dạ !

– Tội trạng của Lê Thị Phương Dung quá rõ ràng. Vừa được ân xá tội này, lại phạm tội khác. Tòa truyền đem y thị ra thụ hình rút gân. Quỷ đâu ! Hành hình ngay.

Một Quỷ cái (giả) nhắc bổng Hoàng Hoa lên, đặt nằm trên cái sập. Một nam Quỷ mặt sần sùi , lồi lõm trông khủng kiếp, múa thanh đao sáng loáng, rồi hỏi Diêm Vương :

– Tâu Đại Vương, con mụ này già họng quá, vì nó ỷ có sắc đẹp. Vậy trước hết thần cắt mũi, rạch trên má trái nó hình con rùa, trên má phải nó hình con chó chổng mông ỉa xem nó có còn tự phụ mình đẹp nữa hay không ?

Hai tay Hoàng Hoa ôm lấy mặt, thị gào lên :

– Tôi xin khuất phục. Kể từ nay tôi xin tuyệt đối trung thành với chồng, nhất nhất phục tùng chồng. Nếu sai lời xin Diêm Vương cứ sai quỷ bắt hồn tôi rồi bỏ vào vạc dầu.

– Được ! Quỷ Vô Thường hãy cho hồn Tạ Quốc Ninh, Lê Thị Phương Dung về trần thế. Giao Lê thị cho Tạ Quốc Ninh xử theo luật Đại Việt.

Quỷ Vô Thường quát :

– Cúi đầu xuống.

Hoàng Hoa vừa cúi đầu thì Diêm Vương giả phóng một chỉ đến véo một tiếng, nàng mê man nằm ngã ngồi dưới nền nhà. Diêm Vương giả lột mặt nạ ra, ông ta ra lệnh cho bộ bộ hạ dọn dẹp căn phòng. Ông nói với Tạ Quốc Ninh :

– Bây giờ tôi xin lui, để phu nhân cho hầu. Tùy nghi hầu xử theo luật Đại Việt. Hầu đừng quên rằng phu nhân với hầu đã chết, mới được hoàn hồn.

Chu Anh cùng bộ hạ ra sân, lên xe xuống đồi.

Tạ Quốc Ninh giải huyệt cho Hoàng Hoa. Hoàng Hoa mở mắt ra, ngồi dậy nhìn quanh, thấy chồng đang ngồi lạnh lùng nhìn mình. Nàng hỏi :

– Quân hầu ! Mình đang ở đâu đây ? Có phải em nằm mơ không ? Em mơ thấy mình xuống Qủy môn quan gặp Diêm Vương. Chúng mình chết rồi anh ạ. Anh có bị Diêm Vương xử tội gì không ?

Tạ Quốc Ninh là đấng anh hùng. Hầu yêu thương Hoàng Hoa, hầu biết nàng là một ca kĩ , tuy được giáo hóa, nhưng tính tình vẫn chưa thay đổi nhiều. Cái kiêu khí của kẻ sĩ, không muốn nói dối một người con gái hèn hạ hầu trả lời lờ mờ:

– Em chưa chết ! Anh cũng chưa chết ! Chẳng qua em bị bắt cóc, sợ hãi quá, rồi cái sợ đó nhập vào mộng mà thôi. Anh biết em bị giam ở đây nên đến cứu em.

– Không thể là giấc mơ được ! Anh đã bị hai tướng Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu giết chết. Em cũng bị Quỷ Vô Thường bắt xuống Âm phủ. Diêm Vương cho hồn chúng mình nhập lại xác cũ mà. Anh ơi ! Đây là đâu ?

– Vùng này là Thiện xiển, cách Côn minh gần trăm dặm. Em ! Chúng ta xa nhau thoáng một cái đã mấy năm. Em hãy cho anh biết những đau khổ mà em đã bị trải qua.

Tại châu Văn sơn, Hoàng Hoa đã được vương phi Ý Ninh dùng Thiền công đẩy hết ác trược trong người ra. Rồi lại được Thúy Hồng dùng Mật công lấy huệ của vương phi truyền vào người nàng. Từ ngày ấy nàng trở thành người đạo đức, đầy nhiệt huyết với đất nước. Từ khi lĩnh nhiệm vụ một Tây Thi chịu đi Mông cổ làm cống vật cho Ngột Lương Hợp Thai. Nàng đã thi hành trọn vẹn nhiệm vụ được trao phó : cấp cho Đại Việt biết bao tin tức hữu ích, nhất là khuyên Ngột Lương Hợp Thai trung thành với Mông Ca, chống lại Hốt Tất Liệt . Thế nhưng nàng bị đánh thuốc mê bằng Lạc hồn phấn, rồi bị giam giữ, bị tra khảo, rồi bị ra tòa Diêm Vương…… tất cả huệ của Thiền công, Mật công bị che lấp, rồi cái chúng sinh tướng tức con người cũ trỗi dậy, nên có những lời đầu đường xó chợ với chồng như thủa còn là ca kĩ.

Bây giờ đối mặt với người cũ, cái huệ của Ý Ninh trong người nàng trỗi dậy. Nàng trở thành người có ý nghĩ, kiến thức như vương phi Ý Ninh. Nàng thuật tất cả sự thực từ khi bị Mông cổ bắt, rồi Ngột Lương Hợp Thai giữ làm của riêng. Tiếp nối bị đưa về Khâu Bắc, sau được Hoa sơn ngũ hiệp cứu. Cuối cùng trở về Đại Việt, bị đưa ra tòa, được ân xá, được dạy dỗ chủ đạo tộc Việt, được triều đình trao cho nhiệm vụ trọng đại, và tái hợp với Ngột Lương Hợp Thai.

Tạ Quốc Ninh thở dài :

– Bây giờ em muốn trở về với anh hay với Ngột Lương Hợp Thai ?

Hoàng Liên khóc :

– Thân thể này bị giặc dày vò, dơ bẩn biết bao! Em không xứng đáng với tình yêu của anh. Em muốn được chết. Chỉ có chết em mới có thể chứng minh rằng em hối hận. Xin anh cho em được chết.

– Tuy em mang tội bất trinh, nhưng đã được ân xá. Còn việc em tái hồi với Ngột Lương Hợp Thai là lĩnh mệnh của triều đình làm Tây Thi.

Biết thân thể mình xú uế, mà chồng vẫn ngọt ngào, Hoàng Liên càng đau đớn. Nàng đứng dậy lao đầu vào cái cột đá. Tạ Quốc Ninh kinh hoảng:

– Khoan!

Nhưng không kịp. Khi đầu Hoàng Liên vừa chạm cột, thì một kình lực nhu hòa chặn ngay đầu nàng. Một giọng nói quen thuộc, êm đềm nhập vào tai:

– Khoan đã!

Vương phi Ý Ninh xuất hiện cạnh Vũ Uy vương. Phi nắm áo nàng, nhắc bổng lên, rồi đặt nàng ngồi vào lòng Tạ Quốc Ninh. Hai tay nàng ôm lấy cổ hầu, khóc rấm rức. Tạ Quốc Ninh định hành lễà, Vương phi xua tay:

– Xin thầy miễn lễ.

Phi thuật lại chi tiết, kế hoạch của triều đình cho Tạ Quốc Ninh nghe: tha tội cho Tô lịch thất tiên, dùng Thiền-công đẩy ác trược trong tâm, dùng Mật công truyền huệ cho bẩy nàng, rồi cho bọn thương gia Hồi giả cống cho Ngột Lương Hợp Thai. Tên Hoàng Hoa được đổi là Hoàng Liên.

Vương biết Tạ hầu là người đa tình, lại rộng lượng, thì dù Hoàng Liên có phạm tội gì ông cũng ân xá cho nàng. Chắc ông không chịu để nàng trở về với Ngột Lương Hợp Thai đâu. Vương không muốn dùng quyền mà dùng tình. Vương đưa mắt cho phi. Phi nói bằng giọng đầm ấm, ngọt ngào:

– Thưa thầy, trước mắt có hai giải pháp cho thầy: một là thầy đem Hoàng Liên trốn Mông cổ, trốn Đại Việt lưu lạc giang hồ, sống những ngày hạnh phúc nhất trần gian. Hai là thầy hy sinh tình yêu đem Hoàng Liên trả về cho Ngột Lương Hợp Thai, thầy chờ một mai khi nhiệm vụ Hoàng Liên xong, nàng sẽ trở về sống với thầy như Tây Thi, Phạm Lãi thủa xưa. Thầy là người có kiến thức bao la, tùy thầy quyết định.

Vương đưa mắt cho vương phi, thoáng một cái hai người đã rời khỏi căn phòng.

Trở về Quán sứ thì trời gần sáng.Vương hỏi phi :

– Tại sao em không cho anh mang Tạ hầu theo?

– Tạ hầu là giới bút mặc văn chương, tài hoa bậc nhất Thăng long. Khi hạ thể đem một ca kĩ về làm vợ, hầu đã phải chịu điều ong tiếng ve. Thế mà bây giờ… Hầu bị chạm tự ái nặng. Ta không thể can thiệp, sẽ làm cho hầu xấu hổ, có thể đưa đến phẫn chí. Hầu đem Hoàng Liên đi đâu, xử nàng ra sao, ta không nên can dự vào. Ta đã có chim ưng theo dõi, ta cần báo cho hầu biết ta ở đâu, hầu khắc tìm đến.

Mặc dù vương phi gửi cho Tạ Quốc Ninh ba bức thư, nhưng không thấy hồi âm, hầu cũng không đến Quán sứ. Rồi chim ưng không tìm ra dấu vết hầu. Phi than :

– Hầu là người tinh, minh, mẫn, cán. Khi hầu nhận được thư của mình thì hầu hiểu rằng mình đã biết những gì xẩy ra quanh hầu. Vì vậy hầu tìm cách hóa trang, khiến chim ưng không nhận ra hầu. Như vậy là hầu chấp nhận ích kỷ, bỏ nhiệm vụ trong sứ đoàn, bỏ Xã Tắc, bỏ chúng ta, để chỉ biết có chữ tình. Nhưng em nghĩ , trước sau gì rồi hầu cũng phải gặp mình, vì hầu đâu có thể để con, cháu mang lụy ở trong nước. Mình không cần tìm hầu.

Hôm sau chánh sứ Lễ bộ thị lang Mông cổ là Mạnh Giáp, phó sứ Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn đến thúc Vũ Uy vương lên đường vào Thục gặp Hốt Tất Liệt. Mặc dù phía Đại Việt, đã có 30 kị mã hộ tống, Ngột Lương Hợp Thai vẫn cử một bách phu Lôi kị dẫn dường.

Vương dẫn vương phi vào thành từ biệt Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A Truật, Hồng Nga, Thúy Trang. Vương nói với Ngột Lương Hợp Thai:

– Thái sư đang buồn vì thứ phi mất tích, nhưng biết đâu ngày một ngày hai vương phi sẽ được cứu thoát. Không biết Thái sư có tìm được dấu tích gì không?

– Không.

Vương phi nói xa xôi cho Ngột Lương Hợp Thai an lòng:

– Tôi có mang theo ba cặp chim ưng. Mấy hôm nay tôi đã dùng chúng bay lượn xung quanh đây đến 10 dặm, mà không thấy dấu tích vương phi. Vậy thì kẻ bắt cóc vương phi đã dấu vương phi ở trong xa, nên chúng không tìm thấy.

Giữa lúc đó Thái giám chạy đâm bổ ra nói với Ngột Lương Hợp Thai, giọng run run cực kỳ sợ hãi:

– Khải vương gia! Vương phi đã về, người đầy thương tích.

Ngột Lương Hợp Thai tỏ ra bình tĩnh nói với Vũ Uy vương:

– Kính thỉnh vương, vương phi nán lại vào cung xem vụ này ra sao?

Ngột Lương Hợp Thai dẫn đầu, tiếp theo là A Truật, Vũ Uy vương, vương phi vào trong Tiên cung. Thị vệ, Thái giám, cung nga đông nghẹt. A Truật ra lệnh:

– Các người lui ra ngoài, chỉ Thái giám, cung nữ hầu cận vương phi ở lại mà thôi.

Trong phòng: Hoàng Hoa nằm dài trên giường, đầu tóc rũ rượi, hai mắt bị băng bằng vải trắng; hai bàn tay, hai bàn chân cũng băng bó bằng vải trắng. Bà Hy Hà ngồi trên chiếc ghế đối diện. Cạnh đó là Ngự y của Đại lý. Ngột Lương Hợp Thai kinh hãi hỏi:

– Vương phi! Cái gì đã xẩy ra?

Bà Hy Hà nói bằng giọng lạnh như băng:

– Thị vệ đi tuần, thấy một người nằm trong vườn Ngự uyển. Họ nhận ra đó là thứ phi, người Đại Việt, nên đưa vào đây. Tôi đã nhờ Ngự y chẩn mạch, nàng chỉ bị ngoại thương. Còn nội tạng vô sự.

Vương phi Ý Ninh hỏi Ngự y:

– Đại phu, liệu thứ phi có mệnh hệ nào không?

– Thứ phi bị mất máu quá nhiều, nên ngất đi mà thôi. Tuy nhiên chân, tay bị cắt mất gân, thì không đi lại được, cũng không sử dụng tay được, mắt mù hoàn toàn.

Hồng Nga, Thúy Trang rùng mình:

– Như vậy sống cũng như chết. Không biết kẻ nào mà ác độc vậy!

Hy Hà nhìn Hồng Nga:

– Con ơi! Khi một người đàn bà đẹp bị ám sát, thì chỉ có một nguyên do duy nhất là sắc đẹp. Hoàng Hoa có tấm nhan sắc khó ai bì thì có thể bị một người đàn bà khác hại, hoặc một gã đàn ông nào bị nàng phản bội, đã ra tay trừng trị mà thôi.

Bà Hy Hà đưa mắt nhìn chồng:

– Vương phủ là nơi quyết định quốc sách, mà để cho gian nhân vào bắt thứ phi đi cả tháng, rồi bây giờ cắt gân chân, tay, khoét mắt, đem trả lại. Như vậy còn gì là oai danh Mông cổ nữa? Còn gì là oai danh của con cháu Đệ Nhất thân vương Tốc Bất Đài nữa?

Bà đập tay xuống bàn, cái đập tuy nhẹ nhàng nhưng âm vang đi khá xa. Vương phi Ý Ninh khen thầm:

– Âm kình bà này quả thực thâm hậu. Trong quân Mông cổ có một phụ nữ như bà Hy Hà là điều không may cho Đại Việt.

Bà nhìn chồng bằng con mắt nghiêm khắc:

– Người này là một trong Tô lịch thất tiên Thăng long phải không? Ở Hoa lâm tôi từng nghe các Thân vương, Tướng sĩ truyền tụng bẩy người đẹp hơn Tây Thi thủa xưa! Đại hãn Mông Ca, Đại vương Hốt Tất Liệt chả từng ước ao được làm chủ một nàng sao? Vì vậy khi vào Thăng long việc đầu tiên ông sai bộ hạ đi bắt bẩy nàng. Ông chiếm một, Đại Vương Hốt Tất Liệt chiếm một. Hốt Tất Liệt đem năm nàng đem về Hoa lâm. Đại hãn giữ một. Còn bốn thì chia cho các Thân vương. Đàn ông ai cũng thích gái đẹp, đó là lẽ thường. Nhất là Tô Lịch thất tiên là gái Việt, con cháu Tây Thi, chỉ có gỗ mới không say mê.

Bà gằn từng tiếng hỏi A Truật:

– Mẹ đã điều tra, Tô lịch thất tiên là bẩy cô điếm. Có đúng không?

– Dạ đúng.

– Gặp người đẹp, như nhìn hoa qua đường thì không ai trách. Đây ông lại phong nàng làm thứ phi thì ra ông coi con điếm với tôi cá mè một lứa sao?

Ngột Lương Hợp Thai cãi:

– Kẻ chinh phu xa nhà, vấn đề phòng the tối quan trọng. Hồi Thành cát Tư hãn cùng phụ vương, chinh tiễu nơi nào, đều bắt gái đẹp làm chiến lợi phẩm mua vui. Còn Hoàng hậu, Chính phi ở Hoa lâm vẫn giữ địa vị cao quý. Tôi quả có sủng ái Hoàng Hoa. Nhưng địa vị của nàng so với Chánh phi Hy Hà sao được?

– Vậy thì thế này, con điếm Hoàng Hoa bây giờ tàn tật rồi. Nàng gửi thân cho ông, mà ông không bảo vệ được nàng. Tôi đề nghị ông ban vàng cho nàng, sai người trị thương cho nàng. Khi vết thương lành ông sai người đưa nàng về Đại Việt.

A Truật chỉ Vũ Uy vương:

– Hiện có sứ đoàn Đại Việt đây. Xin phụ vương trao Hoàng Hoa cho sứ đoàn.

Ngột Lương Hợp Thai truyền lấy 100 nén vàng (1000 lượng) ra trao cho vương phi Ý Ninh:

– Tôi xin nhờ phi kiếm người điều trị cho Hoàng Hoa, rồi đưa nàng về Đại Việt.

Sứ đoàn rời thành Côn minh. Trong đoàn tùy tùng, có một y sĩ rất giỏi tháp tùng. Vương gọi y sĩ:

– Tôi để lại đây hai Kỵ mã Long biên hộ tống Đại phu. Đại phu thuê một ngôi nhà ở vùng quê, trị thương cho Hoàng Hoa. Khi vết thương lành, thì đưa nàng về Đại Việt, trao cho cha mẹ nàng.

Vương hỏi phi:

– Em thử đoán xem, ai đã hại Hoàng Liên?

– Khó biết lắm! Có bốn nghi phạm: một là các anh hùng Đại lý, hai là Tạ hầu, ba là người của Câu khảo cục, bốn là bà Hy Hà. Thôi mình khỏi cần đoán chi cho mệt. Đợi Hoàng Liên tỉnh, nàng sẽ cho ta biết thủ phạm là ai.

Rời Côn minh, đi về hướng Tây Bắc hơn một ngày sứ đoàn mới tới Độ khẩu. Con sông Kim sa giang ngăn lãnh thổ Đại lý với Tứ xuyên. Con sông này chảy về hướng Đông thành sông Trường giang phân chia Kinh châu với Hồ Nam. Một thủy đội đưa người ngựa sang sông. Vương chỉ con sông nói với vương phi:

– Hơn nghìn năm trước, Đại lý là đất Tượng quận của Lĩnh Nam. Con sông này phân chia lãnh thổ Lĩnh Nam với Hán. Bến Độ khẩu này từng diễn ra nhiều trận đánh kinh thiên động địa giữa Lĩnh Nam với quân Hán. Sang bên kia sông, chúng ta đi khoảng ba ngày tới Thành đô.(Xin đọc Anh hùng Lĩnh Nam, cùng tác giả)

Buổi chiều hôm ấy sứ đoàn đến Tây xương. Tây xương là một thị trấn khá lớn. Dân cư đông đúc. Mạnh Giáp dẫn sứ đoàn đến một bãi đất ngoài thành. Y nói với Vũ Uy vương:

– Xin vương gia cùng đoàn tùy tùng tạm dừng chân. Tôi vào thành báo cho quan trấn thủ, để y tiếp đón vương gia.

Vương phi nhìn lên thành, quan sát một lát rồi nói với vương bằng tiếng Hán:

– Anh có thấy cờ xí bay phất phới, quân lính đi lại tuần phòng nghiêm mật không? Dường như trong thành đang có sự cố gì thì phải?

Lý Văn Tuấn giải thích:

– Thưa vương phi, thành này khi thuộc Tống thì có một Tổng đốc trấn thủ. Từ khi thuộc Mông cổ thì có một quan Hành tỉnh người Hán và một Vạn phu Lôi kị trấn đóng. Mọi khi cổng thành chỉ treo một cây cờ có thêu hình chim ưng bay ngang mặt trời. Đó là cờ hiệu của đại vương Hốt Tất Liệt. Hôm nay lại có thêm cây cờ thêu hình chim ưng bay ngang mặt trời, dưới có móc chín cái tua, là cờ biểu hiệu của Thành Cát Tư Hãn. Sau khi Thành Cát Tư Hãn băng thì cờ đó thành biểu hiệu của Đại hãn hoặc Khâm sai của người. Tôi đoán trong thành đang có sự hiện diện của Khâm sai Mông Ca.

Không phải chờ lâu, một viên quan người Hán từ trong thành ra hướng Vũ Uy vương hành lễ:

– Bản chức Tôn An, lĩnh Hành tỉnh Tây xương bái kiến Vương gia. Lưu Khâm sai hiện đang có mặt trong thành. Người sai bản chức kính mời vương gia cùng vương phi nhập thành.

Y hướng Lý Văn Tuấn:

– Khâm sai truyền mời Viên ngoại lang cùng vào.

Lý Văn Tuấn hỏi :

– Lưu Khâm sai là ai vậy ?

– Người tên là Lưu Thái Bình, lĩnh Tham tri chính sự cạnh Đại hãn Mông Ca. Người là Phó Câu khảo cục.

Nghe đến tên Lưu Thái Bình, Vũ Uy vương đưa mắt nhìn vương phi, ngụ ý nói :

« Trong Câu Khảo cục, có ba nhân vật đứng đầu. Nhân vật thứ nhất là A Nan Đáp Nhi, dưới có hai người đều lĩnh chức Tham tri chính sự ngang quyền nhau là Lưu Thái Bình, Ngột A Đa. Mình nghe tiếng Lưu Thái Bình nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Lưu Thái Bình tới đây thì bộ hạ Hốt Tất Liệt không hay đâu ».

Một võ quan người Hán, trong quân phục Mông cổ đứng trước thềm chính tòa, hai bên có hai hàng văn võ ; y cung tay :

– Tham tri chính sự lĩnh Khâm sai, phó Tổng lĩnh Câu khảo cục Lưu Thái Bình bái kiến vương gia, vương phi.

Vũ Uy vương, vương phi đáp lễ :

– Chúng tôi ở mãi tận Đại Việt xa xôi từng nghe danh Lưu tham tri. Hôm nay được bái kiến, thực là vạn hạnh.

Vương phi liếc nhìn đám văn võ quan quanh Lưu Thái Bình, ngoài Tôn An, còn hai văn quan người Hán, và ba võ tướng một người người Tây vực, một người Hán và đệ nhất dũng sĩ Đi Mi Trinh theo hầu A Lan Đáp Nhi ; y từng đấu võ với phi, bị phi đả bại.

Phân ngôi chủ khách xong.

Lưu Thái Bình tỏ ra hào sảng :

– Bản sứ từng nghe Thừa tướng hành Trung thư tỉnh A Lan Đáp Nhi và Tham tri Chính sự Ngột A Đa ca tụng Vũ Uy vương, vương phi Ý Ninh là những anh hùng Nam phương. Không biết trận gió nào thổi mà hôm nay nhị vị giá lâm tại đây.

Vũ Uy vương nghĩ thầm :

« Rõ ràng Lưu biết ta đi sứ, do Hốt Tất Liệt lạm quyền. Mà y hỏi câu này, tỏ ra y có bản lĩnh phi thường. Y muốn ta nói toẹt ra sự thực, để có chứng cứ kết tội Hốt Tất Liệt. Ta cần phải vờ như không biết gì, để y càng ghét Hốt Tất Liệt hơn. Người này khí độ khác thường. Ta phải nhũn nhặn, kết thân với y như A Lan Đáp Nhi ».

Vương chắp tay :

– Kính thưa Khâm sứ đại nhân, năm trước, sau khi xẩy ra cuộc giao binh của quý quốc với quân Việt. Phụ hoàng được sứ giả của Đại hãn đòi sáu điều kiện :

  1. Một là đích thân quốc vương phải vào chầu,
  2. Hai là đem trưởng nam làm con tin,
  3. Ba là kê biên dân số,
  4. Bốn là phải chịu quân dịch,
  5. Năm là phải nộp thuế, lương thảo.
  6. Sáu là nhận Đạt lỗ hoa xích (Đa gu ra tri) .

Vì vậy phụ hoàng cử tiểu vương lên đường sang Hoa lâm chầu Đại hãn.

Lưu Thái Bình xua tay :

– Bản sứ là Khâm sai của Đại hãn, bản sứ xin khẳng định rằng Đại hãn chưa từng sai bất cứ người nào đi sứ Đại Việt.

Vương phi giả ngây :

– Thưa Khâm sai đại nhân, có ít ra ba bốn sứ đoàn mang chiếu thư của Đại hãn đến Thăng long yêu sách vàng, ngọc, châu báu, lụa là. Thiểm quốc phải vét sạch quốc khố nộp cho Khâm sứ, sau ba lần đó thiểm quốc không còn gì để nộp, rồi đại quân kéo vào…

Lưu Thái Bình nghiến răng chỉ Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn:

– Việc này bản sứ đã được Thừa tướng hành tỉnh A Nan Đáp Nhi cho biết chi tiết. Còn phi nói hai người này xưng là Khâm sứ có gì làm bằng không ?

Vũ Uy vương móc trong bọc ra một ống bằng bạc, trong ống có ba trục lụa, đó là ba chiếu thư của Mông cổ. Một chiếu thư trước cuộc tiến quân thời Nguyên phong. Một chiếu thư sau khi Ngột Lương Hợp Thai bại trận. Một sau khi Thượng hoàng nhường ngôi cho con. Vương trao ba chiếu thư cho Lưu Thái Bình rồi kết luận :

– Sứ đoàn thứ tư, thì chánh sứ là Lễ bộ thị lang Mạnh Giáp, phó sứ Viên ngoại lang Lý Văn Tuấn. Hai vị tới Thăng long. Triều đình sai tiểu vương lên đường sang Hoa lâm chầu Đại hãn làm con tin.

Lưu Thái Bình đọc hết bốn chiếu thư, rồi trao cho tùy tùng là một văn quan người Hán. Văn quan đọc xong hỏi Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn :

– Các người là ai, mà dám xưng là Lễ bộ thị lang, Viên ngoại lang ? Các người có biết rằng triều đình Mông cổ làm gì có cái chức Lễ bộ thị lang, Viên ngoại lang không ? Tại sao các người lại mạo xưng là sứ giả của Đại hãn ?

Mạnh Giáp đáp lạnh lùng :

– Chúng tôi là quan của Tống, đầu hàng Mông cổ, được đại vương Hốt Tất Liệt thiết lập triều đình ở Yên kinh với đầy đủ bách quan. Người sai chúng tôi đi sứ Giao chỉ, thì chúng tôi phải tuân chỉ. Những chức tước mà Đại vương ban cho chúng tôi là những chức tước của triều đình tại Yên kinh.

Lưu Thái Bình cùng tùy tùng thẩm vấn Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn chi tiết về những chức quan mà Hốt Tất Liệt đặt ra. Các chức quan đó gần giống với Tống triều. Thư ký ghi chép hết, rồi truyền cho Mạnh Giáp, Lý Văn Tuấn, Hành tỉnh Tây xương ký vào. Y cũng mời Vũ Uy vương, vương phi cùng ký. Cuối cùng y nói với vương :

– Quyết định đem quân vào Đại Việt là Thân vương Hốt Tất Liệt. Gửi sứ đến Thăng long đòi vàng, bạc châu báu, bắt vương gia làm con tin cũng là Thân vương Hốt Tất Liệt. Vàng bạc, châu báu mà Đại Việt tưởng rằng cống cho Đại hãn, sự thực do Thị thần Tắc Chi Chiên nộp cho Thân vương Hốt Tất Liệt. Vương phản Đại hãn Mông Ca, thiết lập triều đình riêng. Tuy nhiên vương gia đã tới đây thì kính mời vương gia, vương phi ghé Hoa lâm yết kiến Đại hãn. Nghe nói Ngột Lương Hợp Thai, Hoài Đô, A Truật tài trí biết bao, võ công cao thâm khôn lường mà bị vương gia, vương phi đánh bại. Đại hãn vốn trọng dụng nhân tài, nhất định sẽ phong vương gia làm đại tướng.

Lưu Thái Bình sai đóng gông Mạnh Giáp, Lưu Văn Tuấn giải về Hoa lâm. Y gọi cho Bách phu trưởng Lôi kị hộ tống Mạnh Giáp, ra lệnh :

– Người trở về Côn minh cáo với Ngột Lương Hợp Thai rằng âm mưu tạo phản của Hốt Tất Liệt đã bị lộ từ lâu. Đại hãn sai chúng ta thiết lập Câu khảo cục điều tra 142 tội của y. Vậy Ngột Lương Hợp Thai hãy nắm binh quyền vùng Đại lý, Tây tạng, đừng để cho Hốt Tất Liệt lôi kéo làm phản. Chúng ta giải Mạnh Giáp, Lưu Văn Tuấn về Hoa lâm làm nhân chứng.

Phái đoàn của Lưu Thái Bình chỉ có hai văn quan người Hán và ba võ tướng Mông cổ. Y giới thiệu :

– Đây là hai vị bồi sứ, người Thục phụ tá cho bản sứ đảm trách ghi chép, thẩm vấn, cùng dẫn đường. Hai người là anh em. Anh tên Đinh Quang, em tên Đinh Minh.

Y chỉ vào ba võ tướng :

– Đây là ba dũng sĩ vô địch, chúng tôi mang theo từ Hoa lâm để hộ vệ.

Lưu chỉ vào người gốc Cao ly hơi giống người Hán giới thiệu tên Kim Đại Hòa, lĩnh chức Kim ưng tướng quân. Người thứ nhì tóc vàng, khắp mình đầy lông vàng, râu xồm xoàm tên A Mit Lỗ Tề lĩnh chức Hùng uy tướng quân. Người thứ ba là Đi Mi Trinh lĩnh chức Hổ uy tướng quân. Cuối cùng là viên Bách phu trưởng, chỉ huy Bách phu Lôi kị hộ tống tên A Lạt Đa.

A Lạt Đa phóng mắt nhìn 30 Kị binh Long biên do La An chỉ huy bằng con mắt tò mò.

Khi đoàn người ngựa đi đến lúc hoàng hôn, thì Đinh Quang đến trước ngựa Lưu Thái Bình cung tay :

– Khải Khâm sứ đại nhân, chúng ta sắp tới Hán nguyên. Hán nguyên là nơi giao lưu của các con sông Độ hà, Dân giang, Thanh y, Ô biên. Trước mặt chúng ta là Nam ngạn của Độ hà, Dân giang. Thành Hán nguyên nằm tại Bắc ngạn hai con sông này. Tiếp tục đi về phía Bắc là Nhã an. Từ Nhã an tới Thành đô phải mất một ngày. Tại Thành đô có đại quân của ta do đại tướng Mật Lý Giả Hoa thống lĩnh. Xin đại nhân quyết định chúng ta độ giang vào nghỉ trong thành Hán nguyên hay đồn trú ở Nam ngạn.

– Khắp vùng này đều do chân tay của Hốt Tất Liệt trấn ngự. Ta không muốn vào thành nhờ vả chúng. Hãy kiếm khu đất nào rộng, đóng quân qua đêm. Mai độ giang sớm.

Đinh Quang phi ngựa lên trước, một lát y trở lại ra lệnh cho A Lạt Đa, La An dẫn Kị mã vào một thôn trang. Cổng thôn có ba chữ rất đẹp : Hưng phúc sinh. Sau cổng là khu đất trống gần chân đồi, Đinh Quang ra lệnh cho hai người tổ chức đóng trại. Trại Mông cổ với trại Đại Việt đóng cách nhau một con lạch nhỏ. Sau khu đóng quân là một thôn trang dường như khá giầu có, vì khắp làng toàn nhà lợp ngói đỏ. Dân chúng thản nhiên nhìn hai đội quân đóng trại. Khắp làng, nhà nào cũng nuôi gia súc nào ngựa, nào trâu, nào bò, nào lợn. Trên cánh đồng những đàn vịt đếm không hết.

Trại vừa đóng xong thì có ba người dân, tuổi khá lớn do A Lạt Đa dẫn vào gặp Đinh Quang, giới thiệu là một Vạn hộ trưởng, đại diện dân chúng. Đinh Quang dùng lời ngọt ngào phủ dụ :

– Chúng tôi chỉ đóng quân ở đây qua một đêm mà thôi. Các vị không phải cung ứng lương thực gì cả. Chúng tôi ăn lương khô. Quân sĩ đều kỷ luật. Bất cứ chúng cướp một con gà, một trái cây, quý bị báo cho chúng tôi, chúng tôi sẽ bồi thường và xử tử tên vô kỷ luật đó.

Vị Vạn hộ trưởng nói :

– Làng chúng tôi chuyên nuôi gia súc, mổ thịt mang sang sông bán. Vì vậy tương đối khá giả. Xãõ tôi mở hội giỗ tổ hằng năm trong 3 ngày. Hôm nay là ngày đầu tiên. Chúng tôi mời đại quan ghé gót ngọc vào xem hội.

Lưu Thái Bình hỏi :

– Hôm nay có gì vui không?

– Bẩm có hát, chạy đua, thi bơi, đấu võ.

– Được ! Các vị để chúng tôi tự do. Chúng tôi sẽ dự như những người dân, không phải tiếp đón gì cả.

Ba người đại diện dân rời trại. Lưu Thái Bình hãnh diện nói với Vũ Uy vương :

– Kỷ luật của quân Mông cổ rất nghiêm. Khi tới đâu, mà binh tướng giặc đầu hàng thì tuyệt đối binh tướng không được cướp của giết người. Bất kỳ binh tướng nào phạm tội đều bị xử tử hình. Vì vậy đi đến đâu chúng tôi cũng được dân chúng tiếp đón niềm nở. Ngược lại giặc chống lại, thì chúng tôi thả quân tự do giết, tự do hãm hiếp, của cải muốn thì lấy tùy thích.

Y ra lệnh cho A Lạt Đa :

– Trong hương này đang mở hội. Cho binh sĩ được xem, nhất nhất phải giữ kỷ luật.

Y hỏi Vũ Uy vương :

– Không biết vương gia có cho Kỵ mã Long biên xem hội không ?

– Kị mã của chúng tôi đều biết nói tiếng Hán, tiếng Mông. Ngặt vì phong tục bất đồng, nên tôi không cho họ xuất trại. Tuy nhiên vợ chồng chúng tôi sẽ đi xem.

Vừa về đến lều, thì La An cáo với vương :

– Từ lúc mình rời Tây xương, mình bị một thế lực theo dõi. Chim ưng phát giác, báo cho biết. Hiện những người đó đã vào trong làng này rồi.

Vương phi nhìn lên trời, thấy một cặp chim ưng đang bay lượn ở khu cuối làng. Phi lắc đầu :

– Khó hiểu, người này là ai mà theo dõi mình ? Có thể họ theo dõi bọn Lưu Thái Bình chăng ? Nếu theo Lưu Thái Bình thì là chân tay của Hốt Tất Liệt. Tối nay vương với tôi sẽ nhờ chim ưng dẫn tới chỗ bọn này ẩn thân, xem chúng là ai ?

Vương ra lệnh cho La An :

– Đô thống sai chim ưng tuần phòng cực nghiêm mật. Đêm nay cái bọn theo dõi này có thể sẽ hành sự. Ra lệnh cho tất cả người của mình rằng nếu có biến cố gì thì để cho phía Mông cổ giải quyết. Mình chỉ phản ứng khi bị tấn công mà thôi.

Có tiếng chim ưng kêu, báo hiệu nó mang thư từ xa tới. La An gọi xuống, lấy ống thư dưới chân trình cho vương. Vương mở ra, trao cho vương phi :

– Em ơi thư của Hồng Nga.

Vương phi tiếp thư đọc :

« Sau khi viên Bách phu trưởng hộ tống Mạnh Giáp trở về báo việc Câu khảo cục bắt giam Mạnh Giáp, Lưu Văn Tuấn, thì A Truật tỏ ra kinh hoảng. Y than thở với em. Thấy y sợ đến không ăn, không ngủ được, em cũng giả run rẩy, khóc thảm thiết : Anh ơi việc tranh quyền giữa anh em trong hoàng tộc là truyện bình thường, bất cứ nước nào cũng xẩy ra. Vì vậy Mông Ca nghi ngờ Hốt Tất Liệt cũng không tránh khỏi cái định luật đó. Mình là thần tử cần đứng ngoài thì hơn. Nay phụ vương tước tới vương, thống lĩnh binh quyền Đại lý, Tây tạng, uy quyền tối cao. Nếu như người theo Hốt Tất Liệt, khi ông ấy lên ngôi Đại hãn, cũng không còn chỗ thăng quan cho phụ vương. Còn như Hốt Tất Liệt thất bại thì cái họa diệt tộc của mình khó tránh. Em thấy cái vụ Hốt Tất Liệt gửi người lạm xưng sứ của Hoa lâm, phụ thân với anh đều là tòng phạm. Nay Câu khảo cục đã thụ lý, nguy đến nơi rồi. Trước mắt chỉ có con đường duy nhất là phụ thân phải sai sứ khuyên đại vương Hốt Tất Liệt sớm lên đường về Hoa lâm phục mệnh. Như vậy thì mình tỏ ra trung thành với Đại hãn, không sợ Đại hãn tru diệt. Quả nhiên ông bố chồng Ngột Lương Hợp Thai nghe lời chồng em. Ông làm liền. Em báo vụ này cho Thúy Trang. Thúy Trang nói với Hoài Đô. Thế là chồng, cha chồng em với Hoài Đô gặp nhau, thông cảm và đặt tiệc mừng. Hoài Đô sai sứ về Hoa lâm tâu xin Đại hãn trao toàn bộ binh quyền Đại lý, Tây tạng cho cha chồng và chồng em . Nhưng bà Hy Hà không muốn Hốt Tất Liệt về Hoa Lâm. Nếu ông ta về thì có nghĩa là Hán pháp sẽ bị hủy bỏ, những người thân của bà sẽ bị giết, bị loại bỏ. Bà dẫn hai tướng Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu đi gặp Hốt Tất Liệt để xúi ông ta phản Mông Ca. Không có tin của Hoàng Hoa, có lẽ họ lên dường về nước rồi ».

Lại có thư của Đại Hành :

« Hốt Tất Liệt sủng ái Bạch Liên cực kỳ, việc gì vương cũng bàn với Bạch Liên. Hai mưu sĩ thân tín nhất là Diêu Khu, Hách Kinh đều khuyên vương nên về Hoa lâm giải trình oan khuất với Đại hãn Mông Ca. Nhưng các võ tướngcầm đầu là Liêm Hy Hiến thì khuyên Hốt Tất Liệt khởi binh tạo phản.

Sau khi Câu Khảo cục chặt hết chân tay của Hốt Tất Liệt, thì vương quyết định đem vợ con về Hoa lâm để chứng tỏ mình không tạo phản. Mới đây Lưu Thái Bình bắt Mạnh Giáp, Lưu Văn Tuấn giải về Hoa lâm. Bọn võ tướng sợ rằng vụ này lớn quá, Mông Ca sẽ không giết Hốt Tất Liệt, nhưng sẽ giết chúng. Chúng định đón dường giết Lưu Thái Bình và bọn Mạnh Giáp để phi tang ».

Vũ Uy vương than :

– Nếu bọn võ tướng giết Lưu Thái Bình, Mạnh Giáp, Lưu Văn Tuấn để gây ra việc đã rồi, bắt buộc Hốt Tất Liệt sẽ phải cử binh làm phản, thì bao nhiêu công lao của triều đình với mình hóa ra tro bụi hết. Làm sao bây giờ ?

Vương phi thiết kế :

– Phải báo tin này cho Tây Viễn vương biết, để vương đề phòng. Còn tại đây mình phải bảo vệ Lưu Thái Bình với bọn Mạnh Giáp. Cái bọn theo dõi mình có thể là người của đám võ tướng cạnh Hốt Tất Liệt.

– Hốt Tất Liệt chủ trương dùng Hán pháp, dĩ nhiên bọn võ sĩ theo ông ta hầu hết thuộc võ phái Trung nguyên, chứ không phải Mông cổ, Tây vực.

Vương phi suy nghĩ một lúc rồi bàn :

– Nếu bọn tay sai Hốt Tất Liệt giết chết đám Câu khảo cục, kế hoạch của mình tuy có xáo trộn, nhưng Mông cổ có sẽ có nội chiến. Một bên là Mông Ca, một bên là Hốt Tất Liệt. Ta hãy so sánh lực lượng hai bên. Hốt Tất Liệt chỉ có vùng đất chiếm được của Trung nguyên, nhân tâm chưa phục ; tướng sĩ nửa theo Mông ca, nửa theo y. Nhưng y có tài. Một bên là Mông ca với lực lượng chính quốc, lực lượng trung thành tại Trung nguyên, lực lượng các Hãn vùng Tây vực. Cuộc chiến sẽ kéo dài ít ra cả mấy chục năm. Sau cuộc chiến, dù bên nào thắng thì tinh lực Mông cổ sẽ kiệt quệ. Bấy giờ anh hùng Trung nguyên, Tây vực, Đại lý, Tây hạ, Kim, Liêu sẽ nổi dậy, thì đế quốc Mông cổ không còn nữa.

Vương ra ban chỉ cho La An :

– Đô thống cho đội Kỵ mã Long biên chuẩn bị sẵn, khi có biến dộng thì dàn ra thành trận Bát tỏa trong Vạn kiếp tông bí truyền thư. Lại cho chim ưng theo dõi Lưu Thái Bình cùng tuần phòng doanh trại.

Trời tối dần.

Vương với vương phi trang phục như người Hán vùng Thục, dắt kiếm vào lưng rời doanh trại, âm thầm theo chim ưng dẫn đường. Quanh co mãi, chim ưng mới bổ xuống một trang trại rộng lớn, xung quanh ước mười mẫu (36.000 m2). Trang trại chia ra bốn khu: khu nuôi ngựa, khu nuôi bò, khu nuôi cừu, khu nuôi gà vịt. Giữa trang trại là một ngôi nhà lợp ngói, ánh sáng từ trong chiếu ra rất rộng. Trước sân, có 4 chiếc xe: một xe tứ mã, một xe song mã và hai xe đơn mã.

Có tiếng nhã nhạc từ trong vọng ra. Vương phi giật bắn người lên, dùng ngón tay khều vào lưng vương, nói nhỏ:

– Nhạc Việt. Rõ ràng tiếng trống mảnh, tiếng nhị và tiếng phách. Điệu ca là một bài hát Xẩm.

Vương ra hiệu cho phi. Phi tung mình vào sân, vọt lên mái nhà. Còn vương thì ghé mắt vào kẽ cửa sổ quan sát bên trong. Vương kinh hoàng, suýt kêu thành tiếng, vì trên một cái sập có bốn người ngồi. Một người là Vũ sơn hầu Tạ Quốc Ninh, một người là Hoàng Liên. Hai người còn lại mặc quân phục Mông cổ, cấp Thiên phu trưởng; một người cao nghệu, một người béo tròn.

Tạ Quốc Ninh đánh trống mảnh. Hoàng Hoa vừa kéo nhị vừa hát. Bản nhạc dứt, Tạ Quốc Ninh lên tiếng nói với người cao nghệu:

– Cháu Cao San! Hốt Tất Liệt là một Thân vương tài trí phi thường. Nếu để y ở Trung nguyên, thì y diệt Tống dễ dàng. Diệt Tống xong thì y sẽ đánh Đại Việt. Vì vậy triều đình Đại Việt nghị kế mượn tay Mông Ca bứng y. Nếu Mông Ca giết y thì tốt, hoặc giả Mông Ca giải trừ binh quyền của y, hoặc đẩy y khỏi Trung nguyên. Câu khảo cục đã giải trừ gần hết binh quyền của y rồi. Y đang chuẩn bị về Hoa lâm. Nhưng bọn Hán muốn y làm phản. Y không nghe. Cho nên chúng mới tìm cách giết hết Câu khảo cục, bắt buộc Hốt Tất Liệt phải làm phản.

– Chính vì vậy mà bà Trần Hy Hà mới sai cháu với Trần Mạnh Quốc theo dõi Lưu Thái Bình, báo cáo tình hình cho bà. Bà chính là người điều động bọn Mông cổ Hán pháp đấy.

Trần Mạnh Quốc than:

– Bọn bộ hạ người Hán được cầm đầu bởi Liêm Hy Hiến và Trần Hy Hà rất lợi hại. Việc chúng ra tay có lẽ chỉ trong vài ngày nữa mà thôi.

– Nhưng cháu nên nhớ là cạnh Lưu Thái Bình còn có sứ đoàn Đại Việt. Ngoài đội kỵ mã Long biên ra còn có Vũ Uy vương, vương phi; thì bọn cao thủ của Trần Hy Hà không dễ gì thắng được.

– Chú không biết đấy thôi, hai tên Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu vốn là người Hán. Võ công chúng cao thâm không biết đâu mà lường. Nay chúng chỉ huy một đội võ sĩ hơn năm mươi người Hán, mặc y phục như quân Tống. Nếu chúng phục kích tấn công thì với một bách phu của Lưu Thái Bình và ba mươi kỵ mã Long biên làm sao chống nổi? Chúng dự trù đêm nay sẽ đột nhập doanh trại tiêu diệt bọn Lưu Thái Bình. Nhưng bà Trần Hy Hà sợ đội Kỵ mã Long biên nên chưa dám cho chúng ra tay. Tuy vậy chúng vẫn theo dõi. Nguy hiểm vô cùng.

– Mình có thể mật báo cho Lưu Thái Bình, để y trưng dụng binh hộ tống được không?

– Vô ích, binh tướng vùng này đều thuộc quyền của Mật Lý Hỏa Giả. Y là chân tay của Hốt Tất Liệt. Y sẽ không chịu xuất binh đâu. Biết đâu y không vờ xuất binh, rồi dùng chính binh đó giết Lưu Thái Bình.

Vương phi quan sát, nghĩ thầm: rõ ràng Hoàng Hoa bị chọc mù mắt, bị cắt gân chân tay, mà sao nàng lại kéo nhị như người bình thường thế kia? Mắt nàng không có vẻ gì là mù cả!

Cao San than:

– Bà Trần Hy Hà là một tướng trí dũng song toàn. Rõ ràng chúng cháu đi cạnh bà, mà không biết bây giờ bọn Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu ở đâu? Ta phải tìm cách báo cho Vũ Uy vương biết mà đề phòng. Liệu sư thúc có thể xuất hiện gặp vương không?

Tạ Quốc Ninh chỉ Hoàng Liên:

– Sư thúc có lỗi với vương, nên không dám gặp vương.

Vũ Uy vương lên tiếng:

– Vũ Uy vương hiện diện từ lâu rồi.

Anh em Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc tỏ ra bình tĩnh. Trần Mạnh Quốc mở cửa hành lễ:

– Từng nghe đại danh Vũ Uy vương, vương phi. Hôm nay được diện kiến, thực hân hạnh.

Y chỉ vào cái sập:

– Xin mời nhị vị an tọa. Chúng ta kẻ là vương tước Đại Việt, người làm tướng Mông cổ, nhưng cùng nguồn gốc là con Rồng cháu Tiên. Không biết nhị vị tới đây gặp anh em chúng tôi với mục đích gì?

Vũ Uy vương chợt động tâm tư:

– Hôm đưa Thanh Nga, Thúy Nga lên đường, Tây Viễn vương có dặn: “ Hồi Phò mã Trần Thủ Huy và Công chúa Đoan Nghi sang Mông cổ, có mang theo đội Kỵ mã Long biên 500 người. Sau 500 người này đều được Thành Cát Tư Hãn phong cho chức Thiên phu trưởng. Có người lập công lên tới chức Binh đoàn trưởng ( chỉ huy 10 vạn phu). Họ lấy vợ Mông cổ. Nay con cháu họ đều là tướng của Mông cổ. Đám này được cha dạy nói tiếng Việt rất giỏi và họ đều hướng về Đại Việt”. Có thể Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc là hai trong đám thiếu niên đời thứ nhì của đoàn Kỵ mã Long biên đây.

Vương nói thực chậm:

– Tôi nhân đi theo sứ đoàn Mông cổ, rồi tình cờ tới đây mà thôi.

Tạ Quốc Ninh chắp tay hành lễ:

– Thần muôn vàn tội lỗi, mong vương gia ân xá.

Vương tiến lên đỡ hầu:

– Thầy không có tội gì cả. Ai ở vào hoàn cảnh của thầy cũng hành sự như thầy.

Vương phi nhìn Hoàng Hoa: chân tay bình phục, duy đôi mắt thì hư hoàn toàn. Phi hỏi:

– Cô thuật cho chúng tôi nghe tiền nguyên hậu quả sự việc cô bị nạn. Xin cô bắt đầu từ cái đêm ở Thiển xiện, những gì đã xẩy ra? Ai hại cô?

Hoàng Liên chậm chạp kể:

“ Sau khi Vũ Uy vương, vương phi rời Thiện xiển thì Tạ Quốc Ninh cùng Hoàng Liên dẫn nhau ra sân tâm tình. Họ kể cho nhau nỗi nhớ nhung trong thời gian xa cách. Hai người sống lại những ngày rực ánh hoa xuân như thời gian còn ở Thăng long. Say tình, hầu quên đi việc người yêu phản bội mình, phản bội nước. Hầu đánh đàn, nàng vừa hát vừa kéo nhị. Trong khoảng thời gian nồng thắm đó, Hoàng Hoa mới cảm thấy thi vị tình yêu ngọt ngào, khắc hẳn với lúc cạnh Ngột Lương Hợp Thai; y chỉ biết dày vò thân xác nàng.

Dù hầu cùng nàng say sưa trong tiếng đàn, tiếng hát, nhưng vì được hạnh từ người vương phi Ý Ninh, do Mật công truyền vào; nàng vẫn cảm thấy hối hận, tội lỗi:

– Anh ơi! Em đã lỗi đạo với anh quá nhiều…

Hầu bịt miệng Hoàng Liên:

– Em không có lỗi gì cả. Chúng ta bị vận nước đưa đẩy mà ra nông nỗi. Từ nay, chúng ta lại bên nhau.Vả những tội lỗi của em đã được Tuyên minh Thái hoàng Thái hậu ân xá rồi mà.

Sau hơn tháng hạnh phúc, Hoàng Liên hỏi hầu:

– Bây giờ anh định sao? Một là chúng mình trốn Đại Việt, trốn Mông cổ, cùng nhau mai danh ẩn tích. Anh làm thầy lang chữa bệnh, em hát rong, sống hạnh phúc bên nhau. Hai là anh đưa em về với Ngột Lương Hợp Thai. Chúng mình đành xa nhau một thời gian, chỉ nay mai thôi, vài tháng là cùng, khi Mông cổ nội chiến, thì nhiệm vụ của em hết. Mình sẽ đoàn tụ, lĩnh hồng ân của triều đình.

Tạ hầu suy nghĩ một lát rồi quyết định:

– Chúng ta không thể phản Đại Việt. Dù Quốc Ninh này tan xương nát thịt mà làm tròn nhiệm vụ của quân phụ trao cho cũng quyết làm, huống hồ xa em một thời gian.

Thế Tạ hầu tìm Chu Anh, báo cho ông biết rằng mình quyết định đưa Hoàng Liên vào thành Côn minh cho Ngột Lương Hợp Thai. Chu Anh mừng không thể tưởng tượng nổi, vì có một trợ thủ nằm trong trướng Mông cổ. Tạ hầu thiết kế: Chu Anh cùng 12 võ sĩ hộ tống chiếc xe tứ mã chở Hoàng Liên, công khai vào thành Côn minh, dối rằng Hoàng Hoa bị Cần vương Đại lý bắt cóc. Ông cùng đệ tử đánh đuổi võ sĩ Cần vương cứu nàng. Nay đem về cho Ngột Lương Hợp Thai để lĩnh thưởng.

Không may, khi đoàn của ông đang trên đường về Côn minh thì gặp một Bách phu Kỵ binh Mông cổ. Đây là đoàn hộ tống bà Trần Hy Hà xuất thành. Trong đám có hai tướng Lưu Hắc Mã và Cao Bằng Tiêu. Chúng từng bị Chu Anh đánh bại, cứu Tạ Quốc Ninh. Nên vừa trông thấy Chu Anh là chúng xua Kỵ binh tấn công liền. Võ công Chu Anh cao hơn chúng, chỉ vài chục hiệp chúng bị bại. Còn bà Trần Hy Hà , bà không hiểu ất giáp gì, thấy Cao, Lưu tấn công một đám người Đại lý, miệng hô phản tặc; rồi bị đánh bại. Bà rút kiếm xông vào trợ thủ. Chỉ mười hiệp Chu Anh bị thương nặng, bỏ chạy. Bọn bộ hạ bị Kỵ binh tiêu diệt trong chớp nhoáng.

Tò mò, bà Hy Hà mở màn xe, thấy bên trong có một giai nhân sắc nước hương trời. Bà hỏi Cao Bằng Tiêu lý lịch Hoàng Liên. Chúng khai sự thực. Cơn ghen nổi lên, Hy Hà đem Hoàng Liên vào một trang trại của người Đại lý.

Hoàng Liên hỏi Cao Bằng Tiêu, Lưu Hắc Mã:

– Nhị vị Cao, Lưu tướng quân. Hai vị có đánh lầm người không? Tôi bị lực lượng Cần vương Đại lý bắt cóc, được quan Thái úy Đại lý là Chu Anh cùng đệ tử của người cứu thoát, đang trên đường trở về Côn minh thì bị nhị vị tướng quân gọi là phản tặc rồi tấn công. Tôi thực không hiểu?

Lưu Hắc Mã có hơi hoảng sợ:

– Vương phi! Cái người cầm đầu là giặc. Hôm trước Thái sư sai chúng tôi giết một tên phản tặc người Giao chỉ, chính y chỉ huy một bọn võ sĩ cứùu tên phản tặc, đem đi.

Hoàng Liên biết tên phản tặc Giao chỉ y nói đó là Tạ Quốc Ninh, Ngột lương Hợp thai sai chúng giết để khuất mắt. Vốn là người giỏi lý sự, nàng hỏi:

– Một là Lưu tướng quân cố ý, hai là Lưu tướng quân lầm lẫn. Người cầm đầu Thái úy Chu Anh của Đại lý.

– Y là Chu Anh?

– Đúng vậy! Quốc vương Đại lý theo gió mà đầu hàng Mông cổ. Chu Thái úy thống lĩnh toàn quân Đại lý chinh chiến dưới quyền Thái sư. Nay chính người đánh bọn Cần vương cứu tôi, mà nhị vị bảo là phản tặc thì rõ ràng là nhị vị cố ý vu cáo người ngay rồi. Tôi biết rõ ràng Thái sư sai hai vị đi hộ tống một người trong sứ đoàn Đại Việt, nhưng hai vị thấy ông ta có nhiều vàng ngọc, hai vị định giết đi để đoạt của, chẳng may gặp Chu Thái úy. Chu ra tay cứu người. Bây giờ nhị vị sợ Chu Thái úy đem tôi về hội ngộ với Thái sư, nên phải giết người bịt miệng. Hà! Gan nhị vị lớn thực.

Lưu Hắc Mã, Cao Bằng Tiêu nhận mật lệnh âm thầm giết Tạ Quốc Ninh. Nhưng không may, bọn y gặp Chu Anh cứu Tạ. Bọn y không dám khai sự thực, trở về cáo với Ngột lương Hợp thai rằng đã giết Tạ, chôn xác rồi. Bây giờ sự việc bại lộ, e mạng sống khó toàn. Hai tên đứng run rẩy.

Bà Hy Hà thấy Hoàng Liên xử dụng quyền vương phi, làm hai tướng Lưu, Cao run sợ thì tam bành, lục tặc nổi lên. Bà tát Hoàng Liên hai cái:

– Im mồm. Mi có biết ta là ai không?

Nhìn Hy Hà, Hoàng Liên tưởng bà là một nữ tướng dưới trướng của Ngột Lương Hợp Thai; vốn giỏi lý sự, lại đanh đá, nàng cười nhạt:

– Mi dám đánh ta sao? Bất quá mi là một nữ tướng già khú đế đại vương, da cháy nám, láng như da lợn quay, tóc bạc như cước ! Răng thì gập ghềnh, nhìn mi ba phần giống người, bẩy phần giống quỷ.

Hồi Thành cát Tư hãn đem quân đánh Tây vực (Hoa Thích Tử Mô, Kwharesm), ông ra lệnh cho Kim, Liêu, Tây hạ cũng các chư hầu phải đem quân tùng chinh. Quốc vương Tây hạ trả lời: “Mông cổ là đại quốc thì Tây hạ mới thần phục. Là đại quốc thì Mông cổ dư sức chinh phục Kwharesm, không cần đến Tây hạ nữa. Còn như Mông cổ không đủ sức đánh Kwharesm, thì Tây hạ không thần phục. Không thần phục thì dĩ nhiên Tây hạ không đem quân trợ chiến”. Thành cát Tư hãn giận căm gan, ông định tàn phá Tây hạ. Nhưng Tốc Bất Đài can rằng: cái tội của Quốc vương Tây hạ không nặng bằng Đại đế Mộ Hợp Mễ. Hãy đánh Kwharesm trước rồi tính tội Tây hạ sau.

Chinh phục Kwharesm, Afghanistan, Turmeskistan, Syrie, Joradanie, Iran, Irak ; tàn phá các nước Đức, Nga sô, Ukraine v.v. trên đường hồi loan, Thành cát Tư hãn tấn công Tây hạ. Trong trận đánh mở đầu Ngột lương Hợp thai bị công chúa Tây hạ là Trần Hy Hà đánh bại, hút mất mạng. Nhưng sắc đẹp của cô công chúa làm y ngây ngất. Vì cha là Tốc Bất Đài, bạn thời thơ ấu của Thành cát Tư hãn, nên y xin với Tư hãn rằng: khi chiếm được Tây hạ thì gả Trần Hy Hà cho y.

Tây hạ bị đánh bại. Nhà vua Tây hạ xin thần phục. Thành cát Tư hãn đồng ý, nhưng ra điều kiện:

– Một là Quốc vương phải thân tới đại bản doanh khấu đầu.

– Hai là phải đem công chúa Trần Hy Hà gả cho Ngột lương Hợp thai.

Không may cho Tây hạ, giữa lúc đó Quốc vương băng hà. Thái tử kế vị, y thân đem em là công chúa Trần Hy Hà cống cho Mông cổ. Thành Cát Tư Hãn gả cho Ngột Lương Hợp Thai làm chính thê. Tuy bị làm cống vật, nhưng công chúa Trần Hy Hà cũng không cảm thấy nục nhã, vì Ngột Lương Hợp Thai được phong tước vương, lại có khí phách; hơn nữa công chúa được phong tước vương phi. Hy Hà theo trong quân Thành Cát Tư Hãn, trở thành nữ tướng. Khi Hốt Tất Liệt đem quân đánh Tống, Tây tạng, Đại lý, y dùng Hán pháp mà thành công. Vốn giỏi học thuật Trung quốc, bà cùng bọn Liêm Hy Hiến, Diêu Khu cố vấn cho Hốt Tất Liệt. Vì vậy y thành công. Bà được dùng làm quân sư. Đang ở Quan trung với Hốt Tất Liệt, bà được tin chồng đánh Đại Việt bị bại, nhưng y bắt được bẩy giai nhân tuyệt sắc. Y giữ một, còn sáu thì cống cho Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt giữ Bạch Liên, phong làm thứ phi, còn lại đem về Hoa lâm dâng cho Đại hãn. Thấy dung nhan sáu người, quả thực sắc nước hương trời. Cơn ghen nổi lên, bà xin phép Hốt Tất Liệt rời Quan trung đi Đại lý. Bà đến Đại lý giữa lúc Hoàng Liên bị mất tích. Bây giờ bà gặp tình địch. Thoáng nhìn Hoàng Liên cơn ghen bốc lên ngùn ngụt, vì quả thực nàng đẹp hơn bà tưởng, nàng lại chế diễu tấm nhan sắc xế chiều của mình.

Bà bảo Cao Bằng Tiêu:

– Người nói cho con đĩ này biết ta là ai đi.

Cao Bằng Tiêu chắp tay hướng Hoàng Liên:

– Thưa Thứ phi! Vị này là chánh phi, là nguyên phối của Thái sư. Người cũng là một Vạn phu trưởng của Mông cổ. Xin thứ phi giữ lời một chút.

Hy Hà hỏi Hoàng Liên:

– Người có phải là Lê Thị Phương Dung, hay còn gọi là Hoàng Hoa, vốn là ca kỹ Giao chỉ không?

Trong thời gian ở Côn minh, Hoàng Liên từng được A Truật nói về Hy Hà. Tuy bị ở trong hoàn cảnh nguy hiểm, nhưng nàng không vì thế mà để nhục quốc thể. Nàng trả lời:

– Dường như bà là công chúa Tây hạ, khuê danh Trần Hy Hà, bà được Thành Cát Tư Hãn phong làm nguyên phi của Ngột Lương Hợp Thai thì phải?

– Đúng thế. Người trả lời ta đi.

– Đúng như Nguyên phi nói. Nhũ danh của tôi là Lê Thị Phương Dung, nghệ danh là Hoàng Hoa. Tôi xuất thân là ca kỹ Đại Việt chứ không phải Giao chỉ.

– Người là một con hồ ly, người đã dùng dâm thuật của lầu xanh quyến rũ Thái sư vào đường dâm bôn. Ta đã đến đây, ta phải giết loài chồn cáo.

Tuy bị uy hiếp, nhưng Hoàng Liên vẫn không khuất phục:

– Tôi là gái có chồng. Chồng tôi là Đồng tri Khu mật viện Đại Việt, tước Vũ Sơn Hầu, tên Tạ Quốc Ninh. Chính Thái sư đem quân bắt tôi, hãm hiếp tôi; chứ tôi không hề dùng sắc đẹp mê hoặc Thái sư.

Nàng nhìn thẳng vào mặt Hy Hà:

– Dường như Nguyên phi gốc là công chúa Tây hạ, cũng bị cống cho Mông cổ thì phải. Còn tôi là đại phu nhân Đại Việt bị Thái sư bắt rồi ép làm thứ phi. Thân phận chúng ta không khác nhau làm ba.

Hy Hà thấy Hoàng Liên lý sự, thì nổi cáu:

– Ta đường đường là công chúa, cành vàng, lá ngọc. Còn mi chỉ là một con điếm, thân phận khác nhau xa lắm. Mi không thể so sánh với ta.

Hoàng Liên vẫn bướng:

– Thưa công chúa diện hạ! Thưa Nguyên phi. Tôi nghe công chúa là giới bút mặc văn chương, nên từ nãy đến giờ tôi gọi công chúa là Nguyên phi. Tại sao Nguyên phi lại dùng những lời đầu đường xó chợ với tôi, rồi nhục mạ tôi?

Hy Hà thấy tình địch nhu nhã, càng nổi cáu:

– Mi là con điếm không lẽ ta gọi mi là công chúa chăng?

– Công chúa điện hạ, xin bình tĩnh. Hiện công chúa là Nguyên phi, còn tôi là Thứ phi của Thái sư Thân vương Ngột Lương Hợp Thai. So vai vế tôi thấp hơn công chúa một bậc. So tuổi tác tôi còn nhỏ hơn con của công chúa là A Truật. Còn so về tài sắc tôi để công chúa tự so sánh.

Hy Hà nhìn Hoàng Liên từ đầu đến chân, quả thực là một người đẹp. Uất hận vì nhan sắc tình địch bỏ xa mình, lại đang hồi hoa nở, nếu so sánh hồi thanh xuân, muôn ngàn lần mình không thể bằng. Còn nay mình đã đi vào tuổi sáu mươi. Tuy võ công cao, nhưng da thì nhăn, mặt đầy vết nám, mắt thì híp, tóc bạc trắng như cước. Trước kia ngực căng nở nay phẳng như cây chuối, còn cái bụng thì phình ra, răng thì cái còn cái mất. So nhan sắc đã thua xa, dùng lời lẽ nhục mạ không xong. Hy Hà quát lên:

– Được! Ta không giết mi, mà chỉ chọc mù mi, cắt gân chân, gân tay cho mi thành người tàn tật, xem lão Ngột Lương Hợp Thai có còn sủng ái mi không?

Nói xong Hy Hà điểm huyệt Hoàng Liên, rồi dùng kiếm chọc thủng mắt, cắt gân chân tay nàng. Điểm huyệt cho nàng mê man.

Sau khi hủy thân thể Hoàng Liên, Hy Hà âm thầm đem nàng vào vườn Ngự uyển Đại lý. Thị vệ đi tuần phát hiện. Bà giả như không biết gì, triệu hồi Thái y của Đại lý cấp cứu.

Ngột lương Hợp thai thấy Hoàng Liên bị mù, chân tay tàn tật thì không còn thiết tha nữa. Trước mặt Hy Hà, y trao Hoàng Liên cho Vũ Uy vương đem về Đại Việt. Vương sai một y sĩ trong sứ đoàn cùng hai Kỵ mã hộ tống. Họ thuê nhà ở một thôn trang làm nơi tạm trú. Mười ngày sau Hoàng Liên tỉnh dậy thì thấy chồng đang ở cạnh mình.

Tạ hầu xuất hiện cùng với một võ lâm cao thủ già. Ông là thầy của hầu. Y học của ông rất cao minh. Ông nối lại gân chân tay của Hoàng Liên. Còn mắt thì ông chịu thua. Sau khi Hoàng Liên bình phục, Tạ hầu lệnh cho hai Kỵ mã và y sĩ trở về Đại Việt, mang vàng bạc của nàng về cho cha mẹ, cùng báo tình hình cho triều đình. Hầu không biết nên đem Hoàng Liên theo sứ đoàn hay trốn đi hưởng thanh phúc.

Giữa lúc đó thì Tạ hầu gặp Vũ Cao San, Trần Mạnh Quốc, cả hai đều là Thiên phu trưởng Mông cổ; đang thi hành mật lệnh của Trần Hy Hà theo dõi Câu khảo cục, khi cần thì ra tay giết tuyệt. Phụ thân hai người này nguyên là Kỵ mã Long biên theo Phò mã Trần Thủ Huy, và Công chúa Đoan Nghi dẫn sang Mông cổ vào thời Thành Cát Tư Hãn. Bấy giờ hầu đi sứ Mông cổ, hầu kết bạn với họ. Tuy thời gian xa cách khá lâu, nhưng ba người cũng nhận ra nhau. Hai người gọi hầu là sư thúc.Họ báo cho hầu biết mối nguy của sứ đoàn.

Hầu nghĩ:

– Mình đem Hoàng Hoa đi như thế này là có tội với triều đình. Chi bằng mình ẩn thân giúp cho Vũ Uy vương, thì cũng không đến nỗi hối hận vì bỏ quốc sự.

Bây giờ bị Vũ Uy vương, vương phi bắt gặp”.

Đúng ra với tội bỏ sứ đoàn của Tạ hầu tội rất nặng, chức tước bị cách, rồi xử tử. Nhưng Vũ Uy vương là đấng anh hùng thời Đông A, tính tình phóng khoáng. Vương ban chỉ:

– Thầy tuy phạm tội thực, nhưng đó là lý. Còn về tình, hoàn cảnh của thầy thực đáng thương. Thôi bây giờ thầy với Hoàng Liên trở lại với sứ đoàn.

Ghi chú về trà Đại Lý.

* Lãnh thổ Đại lý hồi đó, sau này Thế tổ Hốt Tất Liệt cho sát nhập vào lãnh thổ Trung nguyên, đặt tên mới là Vân Nam. Bấy giờ là thế kỷ thứ 13, dân chúng Đại lý đã tìm ra được đặc tính của trà trồng trong lãnh thổ của họ là: Thanh tâm, định thần.

Song sau này họ không tìm ra được đặc tính gì hơn. Mãi tới thập niên 90 của thế kỷ thứ 20, ba cơ sở y tế của Pháp là Đại học y khoa Henri Mondore (Créteil) , Hội nghiên cứu y học Á châu (Association pour la recherche de la Médecine Asiatique ARMA), Viện Pháp Á (Institut Franco-asiatique) đã nghiên cứu về hai loại trà Vân Nam tên thương mại là Toucha và Haoling có đặc tính giảm Cholestérol, Triglycéride ngang với các loại thuốc. Tôi xin đính kèm tài liệu này, để giúp độc giả hiểu về trà Vân Nam có thể khống chế hai con ác quỷ cholestérol, triglycéride.

Đôi lời giới thiệu

Viện Pháp-Á, trân trọng trình bầy với các vị bác-sĩ, dược-sĩ, y-tá, nữ hộ-sinh, cùng dinh-dưỡng viên cũng như quý độc giả tài liệu nghiên cứu về loại trà có khả năng trị chứng mỡ cao trong máu (cholestérol, triglycéride) bằng bốn ấn bản khá nhau: Việt, Anh, Pháp, Hoa.

Như quý vị biết, hơn đâu hết, tại châu Âu, Mỹ, Úc, chứng: Hyperdyslipidémie (hypercholestérolémies, hypertriglycéridémies) là mối lo âu lớn lao của chúng ta. Hai loại mỡ trong máu lên cao, dần dần đưa đến tình trạng bệnh tim, tắc tĩnh động mạch, huyết áp cao, tiểu đường, béo. Đối với người Âu, Mỹ, Úc gốc da trắng, khi hơi thấy hai loại mỡ này lên cao, lập tức tìm bác sĩ điều trị. Họ theo dõi lời khuyên của thầy thuốc cực kỳ chu đáo. Vì vậy ít tai nạn.

Một thiểu số dân chúng gốc da mầu, tuy sống trong những nước mà nền y học cũng như bảo hiểm sức khoẻ cực kỳ chu đáo, nhưng lại coi thường hai con ác quỷ Cholestérol, triglycéride. Bởi khi bị hai chứng trên, đa số chẳng gây trở ngại gì hơn là mập ra. Bệnh nhân không biết mình đã bước một chân vào quan tài, lại còn tự an ủi mát da, mát thịt rồi phát tướng, phát tài. Khi lăn đùng ra, chở vào y viện, gần như trăm người, đến tám mươi người khiến y sĩ bó tay.

Dù người da trắng, da mầu chăng nữa, khi y sĩ tìm ra hai loại mỡ cao trong máu, đều khuyên nên uống một vài loại thuốc. Thông thường phải uống cả đời. Loại thuốc này gây ra nhiều phản ứng khó chịu, khiến bệnh nhân không muốn tiếp tục lâu dài. Nhất là bệnh nhân da mầu. Đa số bệnh nhân muốn có loại trị liệu khác, như ăn, uống chẳng hạn. Vừa ngon, vừa khỏi bệnh.

Một dịp may, phái đoàn của viện Pháp-á và cơ sở nghiên cứu y học ARMA, trong dịp sưu khảo nghiên cứu năm 1982 tại Cộng-hoà nhân dân Trung-quốc, đã phát hiện ra loại cây Phản-phì xuất hiện vào thế kỷ thứ nhất sau tây lịch; tưởng tuyệt giống đã lâu. Loại cây nấu lên uống vào có tác dụng làm mất mỡ trên cơ thể. Phái đoàn lập tức hái mấy chục kilo đem về thử nghiệm. Sau khi thử nghiệm thì thấy rằng đó là họ trà, mà trong dân gian không biện biệt được sự khác biệt của nó với các loại trà thông thường. Uống loại trà này có thể thay thế hết các thứ thuốc trị mỡ cao trong máu. Nếu dùng trong vòng ba đến năm tháng, nó có khả năng trị tuyệt chứng hiểm nghèo này. Trà mang tên Hao-ling. Hao là tên nữ bác sĩ Shu Vi Hao ở Vân-Nam. Liên (Ling) là tên nữ tài tử Chan Ngu Ling ở Hương-cảng. Hai cô đã đóng góp rất nhiều công, hướng dẫn phái đoàn trong việc đi tìm cây phản phì.

Hiện trên thị trường có rất nhiều loại trà. Gốc từ Trung-quốc như Ô-long, Thiết quan âm, trà xanh, trà sen, trà hoa-lài. Gốc từ Tích-lan như trà Ceylan. Gốc từ Việt-Nam như trà Phú-thọ, Blao v.v. Mỗi thứ trà có một hương-vị khác nhau. Về phương diện tác dung y-học càng khác nhau hơn nữa. Nguyên ủy của sự khác nhau là giống-trà, thủy-thổ nơi trồng, phương pháp trồng, thời gian hái, và nhất là cách ướp trà. Hầu như khi người ta uống trà, thì chỉ nghĩ đến hương vị mà thôi, ít người nghĩ đến tác dụng của trà cho sức khoẻ.

Loại trà Hao-ling có nguồn gốc rất cổ xưa, mọc hoang, nay mới được thử nghiệm bằng phương pháp y-học Tây-phương, rồi đem trồng để dùng trong khoa trị bệnh.

Xin độc giả đừng lầm Hao-ling với những loại trà khác, vì Hao-ling là sản phẩm dược-khoa, được bầy bán tại các dược phòng (pharmacie), dược thảo (herboriste), và cửa hàng dinh dưỡng (diététique). Còn các loại trà khác là thứ trà tiêu khiển bán tại các cửa hàng thực phẩm. Hai loại trà này cùng sản xuất từ Vân-Nam, nhưng tác dụng không giống nhau.

Trà Hao-ling được công ty Pagode đem bán trên thị trường. Công ty FIMEX là đại lý độc quyền trên lãnh thổ C.E.E (Thị trường chung châu Âu).

Sau đây chúng tôi lược qua về công cuộc nghiên cứu Hao-Ling. Tài liệu nghiên cứu chính thức viết bằng Pháp-văn, Anh-văn, Hoa-văn. Vì người điều khiển và có công đầu trong việc nghiên nghiên cứu, là Giáo-sư Trần Đại-Sỹ, giám đốc Trung-quốc sự vụ tại viện Pháp-Á . Ông vốn gốc là người Việt, đầy tự hào về tộc Việt, nên chúng tôi cho ấn hành bản Việt-ngữ để làm vui lòng ông.

Chúng tôi đã tước bỏ phần nghiên cứu quá chuyên môn, cũng như danh từ y khoa, để độc giả có kiến thức bậc trung cũng hiểu được, và có thể tự trị loại bệnh đáng sợ này.

Chúng tôi trân trọng ghi ơn các vị sau đây đã giúp đỡ chúng tôi bằng nhiều phương tiện khác nhau, để công cuộc nghiên cứu được thành công mỹ mãn:

  • Đại học y khoa Côn-minh, Vân-Nam, Cộng-hòa nhân dân Trung-quốc.
  • Trung-y học viện Vân-Nam, Cộng-hoà nhân dân Trung-quốc.
  • Các bác sĩ, xích-cước y sinh (Y sĩ chân đất) Vân-Nam, Cộng-hòa nhân dân Trung-quốc.
  • Đại học y khoa Henri Mondor, Créteil. Pháp.
  • Bác-sĩ giám đốc cơ quan nghiên cứu y học Á-châu hoàng gia Tây-ban-nha.
  • Ông giám đốc công ty FIMEX, Pháp.
  • Các bác sĩ, dược sĩ thuộc cơ sở nghiên cứu ARMA.

Paris ngày 5 tháng 4 năm 1993
Viện-trưởng viện Pháp-á.

Giáo-sư Inge Pape Vareille.

Phụ trách dịch sang Việt-ngữ,
Bác-sĩ Trần-thị Phương-Châu (Gynécologie)

Phúc trình kết quả
ĐI TÌM LẠI MỘT LOẠI CÂY,
tuy vẫn tồn tại,

Nguồn gốc của sản phẩm

Sản phẩm gốc từ cây trà, thuộc họ Camélia Sinensis L. Nhưng trà cũng như người. Con người chúng ta có người da trắng, người da vàng, người da đen, người da đỏ. Mà người da trắng cũng có hằng trăm giòng giống khác nhau… thì trà cũng có hằng may trăm bộ tộc. Ở đây tôi chỉ nói về cây trà có tên là Phản-phì, mà lá khi ta uống vào có khả năng trị chứng mỡ cao trong máu.

Từ thế kỷ thứ nhất, khi tỉnh Vân-Nam còn là đất Tượng-quận thuộc đế quốc Lĩnh-Nam, người ta đã huyền thoại nhiều về một loại cây hoang, mà khi đem lá nấu lên uống, sẽ mất hết mỡ. Người ta đặt tên cây này là Phản phì. Phản là chống lại. Phì là béo.

Bấy giờ đế quốc Lĩnh-Nam dưới quyền cai trị của một nữ hoàng-đế tên Trưng-Trắc (39 sau Tây-lịch). Sau khi triều đại Lĩnh-Nam xụp đổ (44 sau Tây-lịch), không thấy nói đến nữa.

Mấy thế kỷ sau, sắc dân Thái thuộc tộc Việt ở Vân-Nam nổi lên chống lại người Trung-quốc, lập ra triều đại mới, xưng là nước Đại-lý, bấy giờ cây Phản-phì được nhắc tới, trong bộ Đại-lý thông chí. Trong bộ sách trên nói rằng:

« Quan Thái-sư Ngột Lương Hợp Thai mang quân vượt núi đánh Giao-chỉ (Tên cũ của Việt-Nam). Nhưng ngựa kéo xe tải lương béo quá, vượt núi không được, phải thả vào thung lũng nghỉ ngơi. Ngựa ăn loại cây Phản-phì, nên ít hai tháng sau, bụng hết mỡ, vượt đèo dễ dàng. Quan Thái-sư ra lệnh cho dân chúng cung cấp lá cây Phản-phì cho những con ngựa béo ăn vào, chúng trở thành khỏe mạnh ».

Nhưng sau trận đại chiến 1258, quân Mông-cổ bị quân Việt đánh tan, từ đấy, không thấy ai nói đến loại cây Phản-phì nữa.

Vì những tam sao, thất bản, nên về sau người ta cho rằng Phản-phì là một loại cây huyền thoại. Sự thực nó thuộc họ trà. Bởi tất cả các trà ở Vân-nam đều có đôi chút khả năng tiêu hóa tốt, sau mỗi bữa ăn có nhiều mỡ. Những trà này mang nhiều thứ tên khác nhau.

Vào năm 1981, trên tạp chí y học địa phương Vân-Nam, có đăng một truyện ngắn mang tựa đề Ngạ phu, của nữ bác sĩ Shu Vi-Hao (Chu Vĩnh Hảo). Nội dung kể truyện một anh chàng ăn không bao giờ biết no, hơi làm là mệt, nhưng về phương diện tình dục, một ngày giao-hoan đến ba lần vẫn chưa đủ, đến nỗi vợ chịu không nổi phải xin ly dị. Trong đó có đoạn nói:

« … Lỡ có béo, chỉ cần gặm ít lá cây Phản-phì là hết ngay ».

Đối với tiểu thuyết, không bao giờ ban điểm báo viện Pháp-á chú ý. Nhưng đoản văn trên lại do một nữ bác sĩ viết ra. Vì vậy tôi trình lên hội đồng viện Pháp-Á. Viện nhờ tôi liên lạc với đồng ghiệp Shu xem đây là sự thực hay bịa đặt ? Thư đi, hơn nửa tháng sau thư trở về với hơn mười lá cây này kèm theo. Tôi nhận ngay ra lá đó thuộc họ trà. Với mười lá cây, không đủ để nghiên cứu, nhưng trong bản phân tích, cho thấy loại lá cây này có tính chất khử cholestérol, triglycéride rất mạnh, chứ không có tác dụng chữa béo, hay chống lại bệnh cuồng dâm.

Mùa hè năm 1982, một phái đoàn viện Pháp-á được gửi sang Cộng-hoà nhân dân Trung-quốc nghiên cứu, gồm 7 người.

– Phản phì là loại trà hoang, mọc ở cao độ từ 1500m trở lên,
– Lá nhỏ hơn trà thường khoảng 1/7 đến 1/3.
– Tất cả đều sống ở nơi bán quang (demi soleil).
– Chúng tôi chia Phản phì làm 5 loại.

* Loại 1, không có độc chất,
* Loại 2, có ít độc chất.
* Loại 3, không có độc chất. Có 18 dạng khác nhau.
* Loại 4, không có tác dụng khử mỡ.
* Loại 5, lá quá nhỏ, không thể khai thác sản xuất.

Phái đoàn đã hái mỗi nơi, mỗi loại khoảng 5 kg lá tươi, chở khẩn cấp về châu Âu phân tích, thử nghiệm. Kết quả cho thấy tính chất, cùng thành phần hóa học không giống nhau. Mãnh lực khử cholestérol, triglycéride cũng không đều nhau. Tôi quyết định chỉ thử nghiệm loại 3, vì loại 3 có dược tính khử cholestérol cũng như triglycéride rất cao, dễ trồng, độc chất không có, chất Théine rất thấp. Nhưng loại 3 lại có đến 10 dạng khác nhau. Tôi đặt tên theo số thứ tự.

Khử cholestérol mạnh nhất, là loại lá ở :

– Nguyên-dương
– Văn-sơn
– Khâu-bắc
– Song-giang,
– Côn-minh,
– Đông-xuyên

Khử triglycéride mạnh nhất là loại lá ở:

– Đông-xuyên,
– Côn-minh,
– Song-giang,
– Khâu-bắc,
– Văn-sơn,
– Nguyên-dương,

Sau đó cây :

Phản-phì loại 3 được đặt tên là Hao-Ling, để ghi kỷ niệm hai thiếu nữ Trung-quốc có công trong việc tìm ra nó. Hảo là tên của Bác-sĩ Chu Vĩnh Hảo. Ling phát âm Quan-thoại là Liên, tên của diễn viên điện ảnh Hương-cảng Trần Ngọc-Liên. Viện Pháp-á đã nghiên cứu rất kỹ thì thấy rằng những cây có độ khử cholestérol, triglycéride càng cao thì chất théine càng mạnh. Cuối cùng chúng tôi đã lấy giống (hạt và tiếp cành) đem về trồng thử tại 8 địa điểm ở Âu-châu: Cùng độ cao, cùng demi-soleil, cùng độ ẩm của đất, cùng độ ẩm của không khí. Các địa điểm ở Hòa-lan, Pháp, Ý, Bồ-đào-nha. Nhưng kết quả thực thảm hại. Cây trà mọc cao, lá to, hoa đẹp, nhưng hàm lượng Théine quá cao (18%), mà than ôi độ khử mỡ dường như không có, chỉ bằng 1/10 những loại ở Vân-Nam.

Chúng tôi phải thuê đất trồng tại Vân-Nam, rồi theo dõi, làm các thí nghiệm:

– Biến chế cách trồng,
– Tìm phân bón đặc biệt,
– Nghiên cứu thời gian hái,
– Làm tăng độ khử mỡ,
– Hạ chất théine hạ thấp đến tối thiểu (0,05 đến 0,5%).
– Cây Hao-Ling bắt đầu được thuê đất trồng tại Vân-Nam.

Nhưng mãi tới năm 1986, sản phẩm này mới được đem xử dụng như dược phẩm.

NGHIÊN CỨU KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ

1.Tình trạng bệnh nhân

Tất cả bệnh nhân điều trị đều bị :

– Chứng huyết áp cao (HTA),
– Hoặc bệnh tim,
– Ở trong tình trạng lipide trong máu lên cao.

Chúng tôi điều trị trong chiều hướng phòng ngừa cùng trị tận gốc. Những bệnh nhân uống trà đều có lượng cholestérol trong máu cao hơn 3.50 g/l, và triglycéride trên 1.50 g/l. Đó là con số căn bản để nhận bệnh nhân điều trị. Sau đây là kết quả của 1000 trường hợp, trong số hơn 4000 ngàn, không chọn lọc.

Cũng nên nhắc lại con số của người bình thường tại Âu-Mỹ như sau:

Cholestérol >1,80 – < 2,40 g/l

Triglycéride >0,40 – < 1,50 g/l

1.1 Chúng tôi ghi nhận 965 trong số 1000 bệnh nhân cholestérol trên 3.50 g/l, triglycéride trên 1.50 g/l.

1.2 Tuổi tác trong khoảng 25 đến 95.

1.3 Về nam, nữ. Có 530 nam, 470 nữ.

1.4 Bệnh nhân được chia làm hai nhóm.

– Một nhóm được điều trị bằng trà Hao-ling.
– Một nhóm được trị bằng PCIB.

Cùng một lúc, chúng tôi quan sát sự thay đổi lượng cholestérol trong máu.

1.5 Tại học viện Á-châu Tây-ban-nha

Dưới đây là bản ghi kết quả của học viện Á-châu tại Hoàng-gia Tây-ban-nha :

– Với 55 bệnh nhân trị bằng Hao-ling, thì 28 bệnh nhân ở trong tình trạng mà cholestétol cao, 51 bệnh nhân tình trạng triglycéride rất cao.
– Cũng trong tình trạng cao tương tự, với 31 bệnh nhân điều trị bằng PCIB, có 15 bệnh nhân bị cholestérol, 28 bị triglycéride cao.

Có những bệnh nhân chỉ bị một trong hai lượng mỡ cao. Để dễ dàng thống kê, hai loại bệnh nhân trị bằng hai phương pháp riêng biệt.

1.51 Tình trạng huyết tương bệnh nhân

– Tất cả bệnh nhân đều ở trong tình trạng ẩm thực bình thường.
– Máu được lấy vào buổi sáng, chưa ăn uống gì.
– Lượng cholestérol trong bình thí nghiệm được trợ giúp với acide sulfurique acétique, anhydride-acétique để mầu xuất hiện tức thời.
– Lượng triglycéride được xác định bởi acétylacétone 2.4 pentanedione, mầu được đo bởi ống nghiệm khắc độ.
– Lượng HDL-C được chuẩn định bằng phương pháp mới nhất.
– Cuối cùng dùng dung dịch phosphotungstate de sodium để chuẩn định HDL, với chlorure de fer (III) cho mầu xuất hiện.

1.52 Phương pháp kiểm chứng

1.52a Nhóm Hao-ling.

– Cho uống ba liều Hao-ling mỗi ngày.
– Tổng cộng 7,5g.
– Cứ mỗi tháng là một bệnh trình.
– Có bốn bệnh nhân chỉ trị trong một bệnh trình.
– Còn 51 bệnh nhân trị trong hai bệnh trình.
– Rất ít bệnh nhân trị với liều Hao-ling thấp 3-4,5 g mỗi ngày.

1.52b. Nhóm PCIB.

– Ba liều PCIB 0.5 g , ngày ba lần.
– Mỗi tháng là một bệnh trình.
– Chỉ có một bệnh nhân điều trị một bệnh trình.
– Còn tất cả đều trải qua hai bệnh trình.
– Cả hai nhóm đều được theo dõi.
– Cả hai nhóm đều được nuôi dưỡng như nhau.
– Trắc nghiệm máu đo sau mỗi bệnh trình.

1.53 Kết quả điều trị

1.53a Về cholestérol

Phân lượng trong máu Nhóm Hao-Ling Nhóm PCIB
28 người 15 người
Trước khi trị + S.D mg/dl 266.43 +/- 31.11 257.00 +/- 21.6
Sau khi trị + S.D mg/dl 220.93 +/- 37.65 211.40 +/- 41.24
Phân lượng giảm + S.D mg/dl 45.5 +/- 35.11 45.60 +/- 40.35
Bách phân giảm (%) 17.08 17.74
Số hữu hiệu (%) 92.86 100
Độ giảm bệnh nhân (%) 64.29 66.67
Bệnh nhân trở lại bình thường(%) 50 53.33

1.63b.Về triglycéride

Phân lượng trong máu Nhóm Hao-ling PCIB
15 người 51 người
Trước khi trị + S.D mg/dl 290.06 +/- 163.87 304.57 +/- 107.30
Sau khi trị + S.D mg/dl 225.53 +/- 154.68 175.64 +/- 87.98
Phân lượng giảm S.D mg/dl 64.53 +/- 99.10 128.93 + /-117.60
Bách phân giảm (%) 22.25 42.33
Số hữu hiệu (%) 86.27 89.29
Độ giảm bệnh nhân (%) 64.71 75
Bệnh nhân trở lại bình thường (%) 33.33 53.57

2. Phương pháp xử dụng

Chúng tôi không nghiên cứu thêm về phương diện:

– Tác dụng hoá học (Chimie)
– Tác dụng hoá-sinh (Biochimie)

Mà chỉ nghiên cứu thuần túy về:

– Phương thức xử dụng.
– Kết quả điều trị.

Bởi các thành viên nghiên cứu đều hoạt động tại phòng mạch tư. Trực tiếp với đủ mọi thành phần bệnh nhân.

Trong 24 thành viên nghiên cứu:

– 3 vị chuyên về thẩm mỹ, trị mập.
– 6 vị chuyên về tim.
– 14 toàn khoa, châm cứu.
– 1 vị chuyên về thần kinh.

Sau đây là kết quả, của 1000 bệnh nhân, không chọn lọc.

2.1 Thành phần theo địa phương

– Ý 157 người tức 15,7 %
– Tây ban nha 143 người tức 14,3 %
– Pháp 400 tức 40%
– Bỉ 300 người tức 30%

2.2 Thành phần tuổi tác

– Nhỏ nhất 22 tuổi . Lớn nhất 95 tuổi
– Tuổi từ 22 tới 42 là 88 người chiếm 8,8%
– Tuổi từ 43 tới 52 là 160 người chiếm 16%
– Tuổi từ 53 tới 95 là 752 người chiếm 75,2%

2.3 Thành phần nam nữ

– Nam 530 tức 53%
– Nữ 470 tức 47%

2.4 Thành phần trọng lượng

– Dưới trọng lượng lý tưởng 70 người tức 7%
– Tương đương trọng lượng lý tưởng 350 ngươì tức 35%
– Vượt quá trọng lượng lý tưởng 580 người tức 58%.

2. 5 Đối tượng điều trị

Cholestérol > 3.50g/l (trung bình 1.5g/l-2.40g/l)

Triglycérides trên > 1.50 g/l (trung bình 0,4g/l-1.50g/l)

2.6 Phân lượng Hao-ling

7,5g hay 3 gói đến 5 gói hay 12,5g mỗi ngày.

2.7 Thời gian điều trị

Từ 30 tới 60 ngày.

2.8. Phương pháp điều trị

2.81. Trong khi cho uống trà Hao-ling, các y sĩ khuyên bệnh nhân bỏ hẳn tất cả những thuốc điều trị cholestérol và triglycéride. Đôi khi dùng châm cứu phụ trợ.

2.82. Sau khi điều trị trong một tháng, thử máu để kiểm soát lại.

2.83. Lúc thấy cholestérol dưới 2.40 g/l và triglycéride dưới 1.20 g/l:

– Tiếp tục điều trị với lượng trà Hao-ling thấp 2 gói hay 5 g/ ngày trong 10 ngày.
– Rồi 1 gói hay 2,5 g/ ngày trong 10 ngày.
– Cho ngừng uống 10 ngày, rồi thử máu lại.

3. Phương pháp xử dụng

3.4. Kết quả điều trị

Trong 1000 bệnh nhân.

Chúng tôi dùng con số bình thường của mỗi người cholestérol dưới <2.4g/l và triglycéride dưới <1,2g/l.

3. 41. Trước khi điều trị

Tất cả bệnh nhân đều ở tình trạng :

– Lượng cholestérol trên 3.50 g/l.
– Lượng triglycéride trên 1.50 g/l

3.42 . Sau hai tháng điều trị

Về Cholestérol,

– 310 người cholestérol còn dưới 1.60 g/l tức 31%
– 380 người cholestérol còn dưới 2.00 g/l tức 38%
– 215 người cholestérol còn 2.40 g/l tức 21.5%
– 95 người cholestérol trên 2.40 g/l tức 9.5%

Kết qủa 905/1000 tức 90,5 %

Trung bình trong tổng số từ 4,2g/l còn 2,1g/l.

Về Triglycéride

– 240 người triglycéride còn dưới 1g/l tức 24%
– 420 người trilycéride còn dưới 1,2g/l tức 42 %
– 250 người triglycéride còn 1,2g/l tức 25%

—>Hồi thứ 70

Advertisements
This entry was posted in 10- ANH HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ. Bookmark the permalink.

One Response to ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.II: Hồi 69)

  1. Truc Tran says:

    Long live Mr. Tran Dai Sy for protect &serve Đai Viet. “Nűoc Nam thuòng có Thánh tài”(Trąng Trình).we studying”Luc HoaTran” in Van Kiep Tong .good luck&heathy.

Comments are closed.