ANH-HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ (Q.I: Hồi 57)

Hồi thứ năm mươi bẩy
Tiêu Sơn hóa tinh pháp,

Trong khi vương phi giảng rươi sinh sống ra sao, cách làm chả thế nào, thì năm nàng Đông hoa trong những bộ áo tứ thân, tha thướt bước vào lều. Mỗi nàng bưng một đĩa chả rươi, mùi thơm ngào ngạt bốc lên. Thanh Nga dâng cho vương, Thúy Nga dâng cho vương phi, Thúy Trang dâng cho Hoài Đô, Hồng Nga dâng cho A Truật, Thúy Hồng rót rượu. A Truật dán mắt nhìn vào Hồng Nga. Hoài Đô dán mắt vào Thúy Trang. Y than thầm:

– Hồi tiến quân vào Thăng long, quân sĩ đã bắt không biết bao nhiêu phụ nữ dâng cho mình, tại sao lại không có những người đẹp như thế này?

Dâng món đầu tiên xong, năm nàng lùi lại, cùng tấu nhạc, rồi Thúy Triang cất tiếng hát. Nàng hát bài chầu văn, tụng cô Đệ Tứ Khâm Sai. Trong tất cả các bài hát chầu văn thì bài tụng cô Đệ Tứ Khâm Sai, có nhịp điệu. Khi cung văn hát, người hầu bóng được cô nhập vào, vừa nhún nhảy vừa múa. Nhưng đây Thúy Trang là Thúy Trang chứ không phải cô nhập đồng, nên nàng vừa là cung văn hát, vừa là cô Đệ Tứ Khâm Sai. Hoài Đô như mê đi trong âm thanh, trong đường cong nét tươi thắm của Thúy Trang.

Thúy Trang làm như vô tình, nàng liếc mắt nhìn Hoài Đô rồi mỉm cười.

Hồng Nga trong bộ áo dài tứ thân, khăn mầu xanh lá cây; áo lót, yếm mầu hoàng yến, dây lưng xanh, đỏ, váy bằng lụa đen trông thực huyền bí. Khi nàng múa, tà áo, dây lưng bay lượn. Trong khoảnh khắc, A Truật như lạc vào cõi tiên; y quên đi kỷ niệm bị kiếm của Ý Ninh bao phủ suýt mất mạng.

Tiếp theo Hồng Nga, mỗi nàng hát một bài. Quan sát anh mắt, cử chỉ của Hoài Đô, A Truật, vương phi nghĩ thầm:

– Nếu như y chỉ nhìn Thúy Trang, Hồng Nga bình thường, thì có lẽ y không rơi vào biển tình. Nhưng nhìn Thúy Trang, Hồng Nga múa, kèm theo tiếng hát, cơ thể uốn lượn thì hai viên tướng Mông cổ từng giết người không gớm tay, bị hai nàng hút mất hồn. Chính hai tên này mới như người lên đồng. Rồi đây trong thời gian đi sứ, làm con tin, chúng ta còn gặp chúng rất nhiều. Nếu như chúng cảm Thúy Trang, Hồng Nga, ta cũng không hẹp gì mà không tác thành cho chúng. Thúy Trang , Hồng Nga sẽ nắm hồn bọn y. Dùng hai thiếu nữ mà tránh được bọn quỷ sứ tàn phá đất nước, tại sao mình không làm? Đại Việt mình mất hai giai nhân giống như kho thóc hao hai hạt lúa thì không đáng kể. Vả năm thiếu nữ theo sứ đoàn đều là nữ lưu hào kiệt, sẵn sàng làm nhiệm vụ của con cháu vua Trưng.

Vương phi đứng lên cáo lỗi, ra ngoài để điều động đầu bếp. Nhưng thực ra phi dặn năm nàng phải làm những gì, tiếp theo. Phi gọi riêng Hồng Nga, Thúy Trang dặn chi tiết phải nói những gì, làm những gì với Hoài Đô, A Truật.

Tiệc tàn, Hoài Đô lấy ra 5 cái thẻ bài trao cho Vũ Uy vương:

– Ngày mai tôi với A Truật phải đem đám tù binh mới được phóng thích về Độ khẩu. Còn sứ đoàn thì nên khởi hành càng sớm càng tốt. Đây là thẻ bài của đại vương Hốt Tất Liệt. Người cầm thẻ bài này coi như chân tay của vương, được quyền đi lại trong lãnh thổ của vương. Vậy vương gia cùng sứ đoàn xử dụng để vào Thục hội kiến với đại vương.

Vương, vương phi tiễn Hoài Đô, A Truật khỏi trại. Năm nàng Đông hoa cũng dàn ra trước cổng tiễn khách.

Vũ Uy vương, vương phi cáo từ lui vào trại cùng Thanh Nga, Thúy Nga, Thúy Hồng. Mặc Thúy Trang với Hồng Nga tiễn riêng Hoài Đô, A Truật.

Hoài Đô lên tiếng gọi A Truật:

– Lên đường thôi!

A Truật thở dài, hú lên một tiếng, y phi thân lên ngựa. Con ngựa tung vó, bụi bay mịt mờ, nhưng y còn ngoái đầu lại nhìn Hồng Nga một lần.

Bản lĩnh Hồng Nga cao nhất trong năm nàng Đông hoa. Nàng nghĩ: phải bắt được viên tướng này, tuy ta không cầm gươm ra trận, nhưng ta quyết không thua các tướng của vua Trưng. Tay nàng hướng A Truật vẫy, miệng nàng gọi giật lại:

– Đại tướng quân!

Gió hiu hiu thổi, y phục bay phất phới, trong khoảnh khắc nàng giống như tiên nữ. A Truật không kìm hãm được lòng. Y gò cương, ngựa hí lên dựng hai vó trước, rồi quay đầu lại. Y nhảy xuống ngựa đến bên Hồng Nga. Nàng sẽ đưa tay lên ngạt cho mắt đỏ hoe, rồi nói bằng tiếng Hoa:

– Đại tướng quân! Em! Em!

– Em có gì không vui?

– Đại tướng quân đi thực sao? Bèo mây gặp gỡ, rồi tuyệt đường chim xanh ư?

Nàng chớp chớp mắt, hai giọt lệ chảy xuống gò má. Lòng A Truật nhũn ra, y nói trong hơi thở:

– Thì anh trở lại đây. Đừng khóc! Đừng khóc.

Hồng Nga sụt xùi:

– Việc vua, việc nước, việc quân không phải một ngày, một lúc mà xong. Em như bông hoa, hoa nở có thì, hương thơm có độ. Anh nên nán lại đây ăn cơm Việt, nghe em hát ít ngày rồi hãy đi.

Nói rồi nàng kéo vạt áo lau nước mắt, cất tiếng hát, một bài hát bằng tiếng Hoa:

Yên thảo như bích ty,
Tần tang đê lục chi.
Đương quân hoài quy nhật,
Thị thiếp đoạn trường thì.
Xuân phong bất tương thức,
Hà sựï nhập la vi?

Hát xong nàng chuyển sang tiếng Việt :

Cỏ Yên xanh biếc như tơ,
Dâu Tần mầu lục, bên bờ xa xa,
Lúc chàng tưởng nhớ về nhà,
Cũng là lúc thiếp bơ phờ quặn đau.
Gió xuân nào có biết nhau,
Tại sao lại thổi cuốn vào màn the ?

Lòng A Truật nhũn ra, y uống từng lời ca, từng âm thanh của Hồng Nga. Y khen :

– Bài thơ của Lý Bạch là một bài thơ chết, được em hát, nó như sống dậy để nói cho anh biết rằng anh đang ở trong tâm em.

A Truật bị sắc đẹp, bị giọng hát, bị dáng thanh nhã của Hồng Nga làm cho y say say như người trong giấc mơ. Gió thổi tà áo nàng bay tung theo gió. Không tự chủ được, y nâng tà áo nàng lên mà hôn, rồi nắm lấy tay nàng. Có tiếng nói bên cạnh bằng tiếng Mông cổ:

– Hồng Nga! Em đưa A truật tới con thác mà truyện trò. Đứng đây vừa nắng, vừa bụi.

A Truật vội bỏ ray Hồng Nga ra. Y quay lại, người nói câu đó là Dã Tượng. Dã Tượng mỉm cười như trêu, như khoan thứ. Chàng nói nhỏ vào tai y bằng tiếng Hán:

– Cô bé này là em kết nghĩa của Vũ Uy vương phi, tuổi đã 19, nhan sắc diễm lệ, lại giỏi ca hát. Tướng quân mau về nói với phụ vương gửi sứ sang hỏi làm nàng vợ. Để chậm e vương phi gả chồng thì chẳng hóa ra một tuồng ảo mộng ư?

Hồng Nga rảo bước về phía thác Chiêu dương. A Truật theo cạnh nàng. Nàng ngước mắt nhìn y:

– Đại tướng quân! Em nghe nói tướng quân là thế tử con của thân vương Ngột Lương Hợp Thai, cháu nội đại vương Tốc Bất Đài. Tướng quân từng chinh chiến khắp thiên hạ, thực là một đấng anh hùng. Cổ nhân nói : Một đời dược mấy anh hùng. Hôm nay bèo mây gặp gỡ trong chốc lát, rồi chúng ta chia tay. Không biết bao giờ chúng ta mới được tái ngộ?

Tim A Truật đập thình thịch:

– Em! Không biết em xưng hô thế nào?

Hồng Nga mỉm cười, mắt đưa ngang:

– Em tên Hồng Nga. Năm nay 19 tuổi.

A Truật ngập ngừng:

– Em ơi! Không biết mai này Vũ Uy vương lên đường đi sứ, em có được đi theo không? Nếu em được theo sứ đoàn thì chúng ta sẽ có nhiều cơ hội gặp lại nhau.

Hồng Nga nghĩ thầm “ Vương phi hay thực. Tên Mông cổ này biến thành con thỏ cho ta bắt rồi đây”:

– Đi sứ sang Mông cổ, đường xá xa xôi, không biết vương gia có cho em theo không? Nếu em được theo sứ đoàn thì chúng ta còn nhiều dịp gặp nhau. Còn như vương không cho em đi, thì chẳng hóa ra chúng mình hội ngộ hôm nay đây, rồi kẻ Bắc người Nam, vĩnh viễn không được gặp nhau nữa thì đời người quả thực là giấc mộng.

– Không thể là giấc mộng được! Anh sẽ nói với phụ vương, sai sứ sang cầu hôn.

Hồng Nga gợi truyện:

– Anh là cháu một đệ nhất công thần của Mông cổ, không biết Mông cổ có còn nhớ lại huân công của ông nội anh không?

A Truật thuật cho Hồng Nga nghe:

“ Ông nội tôi là thân vương đời Thái tổ Mông cổ tên Tốc Bất Đài. Người kết bạn với Thành Cát Tư Hãn từ hồi niên thiếu. Người là một trong chín thân vương khai quốc công thần theo thứ tự:

  • Tốc Bất Đài chỉ huy đệ nhất binh đoàn.
  • Bác Nhĩ Truật chỉ huy đệ nhị binh đoàn..
  • Mộc Hoa Lê chỉ huy đệ tam binh đoàn.
  • Xích Lão Ôn chỉ huy đệ tứ binh đoàn.
  • Gia Luật Mễ chỉ huy đệ ngũ binh đoàn.
  • Triết Biệt chỉ huy đệ lục binh đoàn.
  • Bác Nhĩ Hốt chỉ huy đệ thất binh đoàn.
  • Dược Sơ Đài chỉ huy đệ bát binh đoàn.
  • Bác Khô La chỉ huy đệ cửu binh đoàn.

Thành Cát Tư Hãn gọi chín đại tướng là Cửu đại sơn điêu. Ông truyền lấy quốc kỳ mầu xanh. Trên quốc kỳ, ông truyền vẽ hình con chim ưng bay ngang mặt trời, tượng trưng cho cái tên Thiên hỏa điêu đế của ông. Phía dưới quốc kỳ móc chín cái đuôi trâu, tượng trưng cho Cửu đại sơn điêu.

Phụ thân tôi là bạn thân của Hốt Tất Liệt, bào đệ chúa Mông cổ Mông Ca. Mông Ca tuy làm Đại hãn Mông cổ, nhưng tài trí thua xa Hốt Tất Liệt. Sợ Hốt Tất Liệt đoạt ngôi vua, Mông Ca sai Hốt Tất Liệt đem quân đánh Tống, mục đích đẩy Hốt Tất Liệt khuất mắt. Không ngờ Hốt Tất Liệt vào Trung nguyên, ông ta dùng các văn quan, mưu sĩ người Hán, gọi là Hán pháp. Thành công. Binh lực hùng mạnh, tài nguyên phong phú, uy tín vang lừng, áp chế chính quốc Mông cổ. Mông Ca lo ngại, ông ta sai Thừa tướng A Lan Đáp Nhi với hai Tham tri chính sự Lưu Thái Bình, Ngột A Đa vào Trung nguyên lập ra Câu khảo cục chuyên điều tra, biạ đặt ra tội lỗi của chân tay Hốt Tất Liệt rồi xử tử. Hiện khắp Trung nguyên náo loạn. Đại vương Hốt Tất Liệt đang phân vân một trong hai đường lối hành động: một là đem quân chống lại Mông Ca lập ra triều đình riêng. Hai là về Hoa lâm để tự biện hộ, tự giải oan. Chính vì vậy mà phụ thân tôi cũng án binh chờ đại vương quyết định. Nếu như đại vương tách ra lập một nước riêng thì phụ thân tôi cũng sẽ theo. Ngược lại người bị giết thì phụ thân tôi cũng khó toàn mạng. Ngay trong đạo quân ở Đại lý giữa phụ thân tôi với phò mã Hoài Đô cũng kình chống nhau, vì một người là con rể của Mông Ca, một người là bạn của Hốt Tất Lịệt”.

Qua lời A Truật, Hồng Ngát nắm được năm tin quan trọng của Mông cổ, mà Khu mật viện Đại Việt cần biết:

Thứ nhất, Hốt Tất Liệt dùng Hán pháp mà thành công ở Trung nguyên.

Thứ nhì, Mông Ca nghi ngờ thì ít mà ghen tài Hốt Tất Liệt thì nhiều. Y muốn hạ bệ Hốt Tất Liệt.

Thứ ba, Hốt Tất Liệt đang phân vân: hoặc phản Mông Ca. Hoặc chịu về Hoa lâm biện hộ.

Thứ tư, Ngột Lương Hợp Thai tuy là con một Thân vương khai quốc công thần, nhưng vì là em kết nghĩa của Hốt Tất Liệt nên cũng bị thất sủng. Nếu Hốt Tất Liệt làm phản thì Ngột Lương Hợp Thai sẽ theo y. Còn như y bị tước binh quyền thì Ngột Lương Hợp Thai cũng bị giết hoặc bị cách chức.

Thứ năm, giữa Hoài Đô và Ngột Lương Hợp Thai đang kình chống nhau.

Hồng Nga thấy anh chàng dại gái, nàng khai thác thêm:

– Còn phò mã Hoài Đô! Người có bị nghi ngờ không?

– Không! Phò mã rất được Đại hãn Mông Ca tin tưởng. Hiện giữa người với phụ thân tôi đang ngấm ngầm chống nhau.

Nai đã lọt lưới, cọp đã vào cũi, Hồng Nga phóng ra chiêu kiếm mà Vũ Uy vương muốn nàng phải hoàn thành:

“ Hưng Đạo vương cũng như triều đình, thấy Hốt Tất liệt là người tài trí. Y dùng Hán pháp mà thành công. Nếu y tiếp tục cầm quân ở Trung nguyên thì y sẽ đánh bại Tống. Bại Tống rồi y sẽ đánh Đại Việt. Vậy cần làm cho y bị thu binh quyền. Mông Ca sẽ thân chinh. Mông Ca không có tài, lại kỳ thị người Hoa, trong khi binh tướng Mông Cổ ở Trung nguyên là của Hốt Tất Liệt toàn người Hoa. Mông Ca không thể bại được Tống”.

Nàng nũng nịu:

– Anh ơi! Việc Đại hãn Mông Ca với Hốt Tất Liệt đang căng thẳng. Em chỉ mong anh với phụ vương anh bình an. Có như vậy chúng ta mới có thể hạnh phúc bên nhau.

– Ý em muốn?

– Nếu như Đại vương Hốt Tất Liệt phản Đại hãn Mông Ca, thì chiến tranh khủng khiếp sẽ xẩy ra, khó biết kết quả ra sao? Bề gì Đại vương cũng là em Đại hãn. Em nghĩ anh nên nói với phụ vương, khuyên Đại vương nên về Hoa lâm, anh em hòa với nhau là hơn.

– Anh sẽ hết sức khuyên phụ vương làm như em đề nghị.

– Anh cố gắng nhé.

Nàng liếc mắt đưa tình, A Truật rung động mãnh liệt: Ta phải làm chồng nàng.

Trong khi A Truật với Hồng Nga song song rời bước về hướng thác nước Chiêu dương, thì Hoài Đô nhìn Thúy Trang như ngây, như dại. Thúy Trang đã được vương phi dặn dò:

“ Uy quyền Hoài Đô lớn hơn Ngột Lương Hợp Thai. Y là một đại tướng đại tài, y được Mông Kha tuyển làm phò mã. Vợ y là gái Mông cổ, thô cứng, vừa xấu, vừa dữ, mới chết. Khi vào Thăng long, y tuyển một trong Tô lịch thất tiên là Bạch Hoa làm tỳ thiếp. Nhưng cô này từng trao thân cho bọn Hồ Hồi, hơn nữa là gái có chồng. Địa vị y không thể tuyển nàng làm vợ. Vì vậy y đang như con thuyền không lái. Em phải làm cho y ngây ngất với nét son trẻ, cùng cái mềm mại thanh cao. Như vậy y sẽ thành con nai cho em sai khiến”.

Hoài Đô nhìn Thúy Trang, nàng đã thay y phục: áo bên trong mầu hoàng yến, áo choàng ngoài vạt tím, vạt hồng. Dưới ánh nắng, trông nàng rực rỡ, chói chang, ánh mắt lung linh như nước hồ thu. Nàng mỉm cười nói tiếng Hán với Hoài Đô:

– Phò mã! Người, người định về thực sao?

Bị choáng váng trong bữa tiệc, bị mơ màng trong tiếng hát của Thúy Trang. Hoài Đô vừa tỉnh thì bị nàng hỏi một câu ngoài sự mong ước của y. Y nảy ra ý so sánh Thúy Trang với Bạch Hoa. Khi chưa sang Đại Việt, y đã nghe bọn Tế tác nói về Tô lịch thất tiên. Sau lại được bọn đạo sĩ Hồi giáo ca tụng các nàng. Khi vào Thăng long, bắt được Thất tiên, thì Ngột Lương Hợp Thai dùng Hoàng Hoa làm tỳ thiếp. Y tuyển Bạch Hoa làm của riêng. Nhưng sau những lúc chăn gối, y nhận thấy Bạch Hoa chỉ có nhan sắc, thiếu dịu dàng, kém tình tứ hấp dẫn. Vì vậy y không say mê cho lắm. Bây giờ gặp Thúy Trang, nàng hơn hẳn Bạch Hoa cái son trẻ, yểu điệu, tình tứ, dịu dàng thì tam hồn thất phách y bị hút mất.

Y nói lắp bắp:

– Tiểu cô nương! Tôi cũng không vội lắm. Nếu tiểu cô nương cho phép, tôi sẽ nán lại.

Thúy Trang chỉ về phía trước:

– Kia là thác nước Chiêu dương, nước đổ xuống đẹp như Thiên thai. Chúng ta tới đó hưởng nét đan thanh của núi rừng, vẻ hùng vĩ của tạo hóa.

Tuy bị sắc đẹp Thúy Trang làm cho ngây ngất, nhưng y vẫn chưa hoàn toàn bị lọt lưới:

– Tiểu cô nương. Cô nương với đi tôi như thế này mà không sợ Vũ Uy vương trách phạt ư?

Thúy Trang nghiêng nghiêng đầu, ánh mắt trong như nước hồ thu:

– Trước kia mà em nói truyện với anh thôi thì sẽ bị chặt đầu. Bây giờ giữa Mông cổ với Đại Việt hòa rồi. Vương đang trên đường đi sứ sang Mông cổ làm con tin thì em thân với anh, vương không bực mình mà còn vui vẻ là khác.

Nghe Thúy Trang nói, tai Hoài Đô ù đi. Y như người say rượu:

– Nào chúng ta cùng đi.

Hai người song song nhẹ bước.

Nhớ lời Vũ Uy vương phi dặn, Thúy Trang giả bộ ngây thơ gợi truyện :

– Phò mã, không biết anh kết hôn với công chúa con của vị hoàng đế nào ?

– Người Mông cổ không gọi chúa nước mình là vương, là hoàng đế mà gọi là Hãn, Đại hãn. Khi anh 20 tuổi, nhờ lập chiến công, anh được Đại hãn Mông Ca gả cho một công chúa.

– Ái chà ! Chắc công chúa đẹp như tiên nữ !

– Lãnh địa Mông cổ nằm trải trên vùng thảo nguyên mênh mông. Mùa đông thị lạnh cắt thịt, xé gia. Mùa hè thì nóng như thiêu như đốt, nên phụ nữ thô cằn, không đẹp. Con gái của các Hãn, Đại hãn đều phải tập bắn cung tên, xung trận, cỡi ngựa, người cứng ngắt, đâu biết đàn, ca, múa, cũng chẳng học văn tự. Vì vậy các tướng cầm quân đánh sang Trung nguyên, Đại lý, Đại Việt, hầu hết cưới vợ tại đây.

Y thở dài :

– Vợ anh đẹp hay không đẹp thì cũng chẳng nên nhắc tới. Vì nàng tử nạn trong một lần diễn tập phi ngựa cách đây hai năm.

– Chia buồn cùng phò mã. Không biết anh có định tục huyền không?

– Có chứ. Khi chưa nhập Việt, anh từng nghe nói gái Việt đẹp nức tiếng trong lịch sử. Nàng Tây Thi từng làm tan nát cả một nước Ngô. Việt vương chỉ dùng một Tây Thi mà bớt đổ biết bao nhiêu máu, thành công vĩ đại.

Thúy Trang nghĩ thầm:

– Tên này khôn gớm! Y tấn công, dọa già mình đây. Con bé Thúy Trang này không sợ mi đâu.

Nàng cười khúc khích:

– Tiếc quá, Nguyên Phong hoàng đế chê em là con nít không dùng em. Bằng không người đem em cống cho Đại hãn Mông Ca, thì nhất quyết em không thua Tây Thi. Này, hay phò mã xin với Vũ Uy vương mang em về Mông Cổ rồi cống cho vua Tống. Như vậy Mông cổ không tốn xương máu mà hạ được Tống.

Hoài Đô lắc đầu:

– Anh không dại gì mà cho em gặp Mông Ca hay vua Tống. Hai ông này thấy em, e không phong làm hoàng hậu, cũng phong làm quý phi. Không! Kỳ này Vũ Uy vương sang làm con tin, anh sẽ xin vương gả em cho anh. Anh nói một là một, hai là hai.

– Em nghe nói hôm vào Thăng long anh đã tuyển một giai nhân làm tỳ thiếp. Có không?

– Có. Hôm anh vào Thăng long, bọn Hồi hột có giúp anh bắt được 7 đệ nhất giai nhân Đại Việt. Anh thu dụng một người, những tưởng có thể dùng làm vợ. Nhưng anh thất vọng. Về nhan sắc, cầm ca e người này không thua em làm bao. Song cô ấy chỉ có sắc đẹp, lại hơi lớn tuổi, kém thông minh. Anh chỉ có thể dùng làm tỳ thiếp khi chưa có vợ bên cạnh, mà không thể dùng làm chính thiếp. Vì…

– Vì sao?

– Cô ấy xuất thân là gái lầu xanh, bướm chán ong chường. Sau lại làm thứ thiếp cho một tước vương Đại Việt. Anh mà dùng cô ấy làm chính thê thì triều đình Mông cổ sẽ chém đầu anh ngay. Chỉ có em mới xứng đáng làm vợ anh.

– Phò mã ơi! Tuổi em còn quá trẻ, lại vụng về. Sợ rằng làm phu nhân một đại tướng Mông cổ không nổi. Em lại làm phò mã thất vọng nữa mà thôi.

– Không! Em vừa thông minh, vừa có cái vốn Hán học cao, lại vừa còn là trinh nữ. Hiện giờ Mông cổ sắp sửa dẹp xong Tống, cai trị Trung nguyên. Em làm vợ anh thì thực là điều anh ước mơ.

Nhớ lời Vũ Uy vương phi dặn, Thúy Trinh gợi truyện:

– Em muốn hỏi một truyện. Như anh nói, anh sẽ xin hỏi em làm vợ, em mới tò mò.

– Em tò mò gì?

– Giữa anh với Ngột Lương Hợp Thai, thì ai có quyền hơn ai?

– Hợp Thai toàn quyền về tác chiến, hành quân. Còn anh là đại diện Đại hãn, anh quyết định về chính sách, ngoại giao, cai trị, bổ nhiệm quan chức.

Thúy Trang thấy bây giờ là lúc mình thi hành đại kế của Hưng Đạo vương mà Vũ Uy vương dặn mình: giải binh quyền Hốt Tất Liệt, khuyên y về Hoa lâm.

– Hiện giờ đại vương Hốt Tất Liệt uy quyền áp chúng, không coi Đại hãn ra gì. Ngày một, ngày hai, đại vương cũng đem quân chống Đại hãn, lập ra một nước biệt lập với chính quốc, rồi mang quân về chiếm Hoa lâm. Còn anh, em biết rõ rằng anh là phò mã thì anh nghiêng về Đại hãn. Bấy giờ đại vương Hốt Tất Liệt sẽ hại anh. Anh bị hại, thì thân phận em liệu có sống được chăng?

Hoài Đô tỏ vẻ cương quyết:

– Hốt Tất Liệt sắp bị thu binh quyền rồi. Ông ta không dám làm phản đâu. Cái vụ đòi Đại Việt cử người làm con tin là do Hốt Tất Liệt, chứ không phải do Đại hãn. Khi Vũ Uy vương tới Côn minh, ông ta sẽ giữ vương lại, chứ không để vương đi Hoa lâm đâu. Anh sẽ dùng quyền đại diện Đại hãn cương quyết hoặc để vương về nước, hoặc để vương đi Hoa lâm.

Thúy Trang ngước mắt nhìn Hoài Đô:

– Khi bầy tôi mạnh hơn chúa thì có hai việc xẩy ra. Một là chúa ra tay trước trừ bầy tôi. Hoặc bầy tôi phản chúa.

– Anh hiểu ý em. Anh sẽ nhờ Vũ Uy vương tìm đủ mọi cách giải binh quyền Hốt Tất Liệt. Hiện giờ Câu khảo cục của Thừa tướng A Lan Đáp Nhi với hai Tham tri chính sự Ngột A Đa, Lưu Thái Bình đang đi khắp lãnh thổ của ông ta, trừ hết chân tay thân tín của ông ta.

Thúy Trinh nghĩ thầm:

“ Nai đã vào lưới. Đại bàng đã bị ta bắt giam trong đôi mắt rồi”.

Khi dạy Hồng Nga, Thúy Trang bắt hai con nai A Truật, Hoài Đô, vương phi Ý Ninh đã tính toán trước: A Truật còn trẻ, dại gái, phi dùng Hồng Nga là người có bản lĩnh, dẫn dắt y theo dễ dàng. Còn Hoài Đô, y đã lớn tuổi, kinh nghiêm đời, từng trải, không biết bao nhiêu gái đẹp dã qua tay y, thì dùng Thúy Trang. Thúy Trang còn trẻ, giả ngây thơ, y mới không đề phòng. Quả nhiên bây giờ nàng đã khích y, dọa y để y giải trừ binh quyền Hốt Tất Liệt. Nàng lại moi được những bí mật nhất của triều đình Mông cổ. Những bí mật này tuy Ngột A Đa đã cung cấp nhưng quá sơâ sài. Bây giờ mới có chi tiết. Hoài Đô dã xác nhận:

Thứ nhất, Giữa anh em Mông Ca, Hốt Tất Liệt đang có sự chia rẽ trầm trọng. Mông Ca lập Câu khảo cục để tỉa bớt chân tay Hốt Tất Liệt, rồi từ từ giải binh quyền của y.

Thứ nhì, Hoài Đô là người của Mông Ca. Ngột Lương Hợp Thai là người của Hốt Tất Liệt. Hai bên đang kình chống nhau.

Thứ ba, Hốt Tất Liệt đòi Đại Việt gửi người sang làm con tin với ý định nắm Đại Việt trong tay, để gây thế lực, chống Mông Ca.

Thứ tư, khi Vũ Uy vương tới Côn minh thì Hốt Tất Liệt giữ lại. Hoài Đô sẽ phản đối, đòi vương phải di Hoa lâm.

Đạt được mục đích, Thúy Trang cần tỏ ra thiết tha, để Hoài Đô không nghi ngờ:

– Bây giờ Đại Việt với Mông cổ hết chiến tranh rồi. Vũ Uy vương sang Hoa lâm làm con tin. Liệu phò mã có nghĩ tới về Đại Việt chơi không?

– Anh chưa nghĩ tới. Sao em lại hỏi như thế?

– Em là đứa con gái ở mãi xứ thấp nhiệt, nếu như được làm vợ một đại tướng như anh, thì danh dự nào bằng? Nhưng danh dựï ở Mông cổ, ở Trung nguyên thì có cũng như không? Nếu như phò mã dẫn em về thăm quê thì mát mày mát măt với họ hàng, làng xóm.

Hoài Đô lớn tuổi hơn A Truật nhiều, y lại kinh nghiệm dạn dầy về đàn bà. Lúc đầu nghe Thúy Trang múa, hát y quả bị choáng váng. Tuy vậy y chưa bị lọt lưới. Sau khi trao đổi ít câu với Thúy Trang y mới thưc sự rung động. Y nói:

– Hôm nay chúng ta được trao đổi với nhau những tâm tình thế này là nhờ lượng cả của Vũ Uy vương. Thôi chúng ta tạm ngừng, khi sứ đoàn tới Hoa lâm, mình sẽ gặp lại nhau.

– Nhưng! Em sợ.

– Em sợ gì?

– Như anh nói, anh sẽ xin với Vũ Uy vương cưới em làm vợ. Vũ Uy vương vừa nể, vừa kính trọng anh, chắc vương gia sẽ đồng ý. Anh phải làm sao cho sứ đoàn đi Hoa Lâm mới hy vọng chúng ta thành vợ chồng. Muốn thế thì phải giải trừ binh quyền của Hốt Tất Liệt.

– Em yên tâm. Còn trời còn đất, còn sông còn núi, anh quyết làm cho được. Quyết dùng hết tài trí để được em.

Thúy Trang nghĩ thầm:

“ Bắt con sư tử Hoài Đô quả quá khó. Nhưng y đã lọt lưới. Y lại dùng tài trí để hạ bệ Hốt Tất Liệt”.

Hoài Đô, A Truật lên đường rồi, vương phi nói với Thúy Trang, Hồng Nga:

– Giỏi! Thúy Trang, Hồng Nga đã bắt được ba hồn bẩy vía của Hoài Đô, A Truật rồi. Chúng ta đã biết hết nội tình Mông cổ. Màn kịch này hay quá. A Truật nài nỉ Ngột Lương Hợp Thai khuyên Hốt Tất Liệt nên về Hoa lâm. Hoài Đô một phần dùng uy quyền, một phần tấu về triều cho Mông Ca biết cái nguy Hốt Tất Liệt. Nhưng hai em phải cứng bóng vía nghe! Không thể để mình biến thành con mèo cho chúng sai bảo.

Vương họp sứ đoàn trong lều. Vương phi nhìn năm nàng Đông hoa với tất cả yêu thương:

– Không ngờ trên bến Bắc ngạn, Thanh Nga treo bảng tuyển phu, đưa đến anh chị gặp năm em. Về nhan sắc, cả năm đều thuộc loại quốc sắc, thiên hương. Về âm nhạc năm em đều thuộc loại tay tiên. Các em nên nhớ, một cái liếc mắt, một nụ cười của các em mạnh bằng trăm chiêu kiếm. Các em có ba ưu điểm: một là thuộc giòng giống Việt, có hùng tâm tráng chí của vua Trưng, của Triệu trinh vương, sẵn sàng hy sinh cho Đại Việt; vì vậy khi hành sự thì thần trí minh mẫn. Hai là nhan sắc các em tươi thắm, khác hẳn với gái Mông cổ, thô, cứng. Ba là nếu các em chỉ xinh đẹp thôi, e không dễ gì bắt nai Mông cổ được; nhờ các em giỏi âm nhạc, nên lúc hát, khi đàn, thân thể uốn lượn, thì anh hùng đến đâu cũng bị nghiêng ngả.

Năm nàng nghe phi giảng giải, như người mù được mở mắt. Phi tiếp:

– Đối với đàn ông, họ có thể là vua chúa, là đại tướng, một lệnh họ ban ra khiến hằng vạn người chết, khiến thành nghiêng núi đổ. Họ có thể là những cao thủ võ lâm, một chiêu đánh ra, làm voi, làm cọp chết. Nhưng nếu các em biết xử dụng nụ cười, liếc mắt, uốn mình, các em có thể biến vua chúa, tướng lĩnh dữ như sư tử, như beo, như cọp thành những con chó ngoan ngoãn cho các em sai. Các em có thể biến họ từ con diều hâu thành con bồ câu, giam họ trong đôi mắt các em.

Vương tiếp lời phi:

– Trong nước vừa trải qua cuộc chiến, biết bao người chết, nhà cháy. Các vị vương từng cùng anh lăn mình vào chỗ gươm đao để bảo vệ đất tổ, để bảo vệ dân chúng. Trung vũ đại vương Trần Thủ Độ, Hưng Ninh vương Trần Quốc Tung, Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Nhân Huệ vương Trần Khánh Dư… và hằng trăm, hằng nghìn tướng từng xuất mã. Bây giờ có cuộc chiến mới, các em là những tướng ra trận. Một liếc mắt như ngàn lưỡi đao, vạn lưỡi kiếm. Một nụ cười bằng vạn mũi tên. Anh nói ít, các em hiểu nhiều.

Nghe vương phi, vương giảng giải, năm nàng cảm thấy hùng tâm, tráng chí ngùn ngụt bốc dậy. Vương phi tiếp:

– Thanh Nga, Thúy Nga đã thành công với Ngột A Đa, A Lan Đáp Nhi. Thúy Trang đã thành công với Hoài Đô. Hồng Nga đã thành công với A Truật. Còn Thúy Hồng chị sắp sửa cho em lâm trận.

Cuộc trao đổi người diễn ra trong năm ngày thì xong. Vũ Uy vương gọi Dã Tượng, và năm nàng Đông hoa vào trong lều. Vương nói với Dã Tượng:

– Có một việc rất khó khăn, chú cần đến sức của cháu.

Dã Tượng cảm động:

– Cháu xin đợi chỉ dụ của chú. Chú ơi! Khi nghĩ đến Xã tắc, dân tộc thì khó mấy, cháu cũng phải cố gắng làm cho được.

– Cháu sắp thi hành một lệnh cực khó khăn, nhưng chú biết cháu đủ khả năng hoàn thành. Chú sẽ cử Thúy Hồng đi với cháu. Hai người phải giả làm một cặp vợ chồng. Chồng người Việt, vợ người Thái, mới cưới nhau.

Thanh Nga nghe Thúy Hồng được cử đi với Dã Tượng thì cảm thấy bồn chồn khó chịu: Thúy Hồng có sắc đẹp dịu dàng, nhất là khi nàng mặc bộ quần áo tứ thân mầu tím. Bây giờ nàng được đi cùng Dã Tượng trong vai vợ chồng; dù là vợ chồng giả, thì cũng khó mà giữ được trong sạch, thực nguy hiểm vô cùng. Thanh Nga đánh bạo hỏi vương phi:

– Chị ơi! Chị cho em đi thay Thúy Hồng được không?

Vương phi đọc được tâm sự Thanh Nga, dù sao phi cũng vẫn là thiếu nữ trẻ tuổi, phi nghiêm mặt:

– À, cái này chị hoàn toàn không biết! Em hỏi vương huynh. Dường như vương huynh cũng không phải là người quyết định, mà do thầy Tạ Quốc Ninh định.

Mắt Thanh Nga đỏ hoe, nàng nhìn Tạ hầu:

– Thưa thầy!

Tạ hầu bẹo má Thanh Nga:

– Con ơi! Thầy biết tình yêu của con với Dã Tượng sâu như biển Đông! Thầy là người kết hợp hai con lại, con phải biết chứ? Thầy luôn mong muốn hai con thành đôi giai ngẫu. Việc con với Dã Tượng là việc tư. Còn việc thầy đề nghị Dã Tượng đi với Thúy Hồng là việc công. Chuyến đi này cần băng qua nước Đại lý. Người Đại lý nói tiếng Thái. Dã Tượng cũng như con mới học tiếng Mông cổ, tiếng Hoa vùng Lâm An. Đối đáp thông thường thì Dã Tượng đủ tiếng Hán nói với họ. Nhưng bàn quốc sự trong trường hợp phức tạp này thì không thể. Thúy Hồng giỏi tiếng Mông cổ, tiếng Thái, tiếng Hoa vì vậy thầy mới sai Thúy Hồng đi với Dã Tượng.

Hầu lại tát yêu Thanh Nga:

– Dã Tượng có tư cách người quân tử, chính trực, quang minh. Con phải tin Dã Tượng chứ?

Tuy được an ủi, nhưng Thanh Nga vẫn khóc nức nở, nàng cảm thấy như sắp mất Dã Tượng.

Dã Tượng đâu phải không biết tình yêu Thanh Nga dành cho mình? Nhưng chàng từ một mục đồng, trở thành tướng Ngưu binh, từng đánh thắng Lôi kị bẩy trận, lại là con nuôi của Hưng Đạo vương. Suốt thời gian sống trong dinh của vương, chàng được dạy văn, luyện võ, được nghe giảng chủ đạo tộc Việt, nên chàng mơ màng làm những việc như các anh hùng thời Lĩnh Nam, thời Lý. Chuyện vợ, con đối với chàng là điều gì xa xôi.

Từ hôm gặp năm nàng Đông hoa, Dã Tượng hết sức sủng ái cả năm nàng. Chàng thay Vũ Uy vương tổng lĩnh mọi việc của sứ đoàn. Chàng chăm sóc năm cô từng ly từng tý, như một ông anh cả đối với mấy cô em nhỏ. Năm cô cực kỳ kính trọng chàng. Tình cảm của chàng đối với Thanh Nga cũng như bốn cô kia, không hơn, không kém.

Bây giờ Thanh Nga khóc vì chàng đi xa với Thúy Hồng trong vai vợ chồng. Dã Tượng hiểu tâm ý Thanh Nga, nhưng chàng không biết an ủi như thế nào? Chàng nói nhỏ:

– Anh với Thúy Hồng chỉ đi ít ngày rồi về. Anh cam kết với em rằng anh sẽ giữ cho Thúy Hồng tuyết sạch, giá trong. Em có tin anh không?

– Không! Em không thể yên tâm trong vấn đề này?

Để Thúy Hồng nắm vững vấn đề, Vũ Uy vương tóm lược vụ Mông cổ kiềm chế cha mẹ, vợ con hơn ba trăm cao thủ võ lâm Tống, rồi bắt họ theo quân chinh tiễu các nước. Hồi Mông cổ vào Thăng long, đám cao thủ này trở giáo giúp Đại Việt để cứu Hoa kiều. Trong lần hội với Trung vũ đại vương Trần Thủ Độ, Ngột Lương Hợp Thai xin vương tha cho đám tù binh Mông cổ, Đại lý. Vũ Uy vương đưa điều kiện: phía Đại Việt thả tù binh, thì Mông cổ phải thả gia đình các võ sĩ Trung nguyên đưa sang Đại Việt. Bây giờ Dã Tượng lên đường đi Hợp châu điều đình với Vương Kiên, để Vương nhận đám võ lâm này.

Vương nhấn mạnh:

– Trong binh pháp Tôn Tử, chia làm hư và thực. Trong binh pháp của Công chúa Thánh Thiên thời Lĩnh Nam chia ra hợp và phân. Việc trao tù binh, việc đem cao thủ Tống trao cho Vương Kiên là hư, là phân. Còn thực, hợp mới quan trọng.

Trong năm nàng Đông hoa, thì Hồng Nga thâm trầm nhất, lại chú ý về chính sự. Nàng hỏi:

– Em có một thắc mắc: hiện mấy trăm cao thủ Tống hàng Đại Việt, tại sao mình không chiêu mộ họ làm lực lượng giữ nước với mình? Trả họ về Tống, thì chẳng hóa ra mình bưng mâm cỗ biếu không cho Tống ư?

Vương phi dùng ngón tay trỏ sẽ khều lên gò má trắng hồng của nàng:

– Em tôi đã đẹp, lại có tấm lòng son với đất nước. Em hỏi câu này tỏ ra em là người đại trí. Sau chuyến đi này chị xin đức vua lập một đạo nữ binh, để cho em chỉ huy.

Dã Tượng cười lớn:

– Thím quên rồi ư? Trong mấy chục tướng trâu của cháu, quá nửa là nữ tướng. Bọn con gái tuy sức khỏe không hơn bọn con trai, nhưng khi xung trận chúng lỳ lắm. Chết thì chết, chứ chúng nó không chịu lùi. Chúng lại lắm mưu nhiều mẹo, hành quân biến hóa không biết đâu mà lường được.

Chàng nhìn Hồng Nga:

– Khỏi cần về nước cỡi trâu làm Ngưu binh. Tại đây em liếc mắt một cái khiến cho bọn tướng Mông cổ ngã lăn ra, thì còn mạnh gấp trăm lần, nghìn lần cỡi trâu xung trận.

Vương phi kéo mọi người trở lại với câu hỏi của Hồng Nga:

– Các em nghĩ gì về thắc mắc của Hồng Nga?

Dã Tượng đáp không suy nghĩ:

– Mình đem các cao thủ Tống về mặt trận Tứ xuyên, có ba điều lợi.

Thanh Nga đã hết khóc, nàng hỏi:

– Ba điều lợi kia à?

– Một là, Mông cổ đánh Tống bằng hai mũi. Một mũi từ Bắc, tràn qua sông Trường giang. Mũi này họ bị cản tại Tương Dương, Phàn Thành. Họ mở thêm mũi thứ nhì là chiếm vùng Tây xuyên, Đông xuyên, đánh từ phía Tây vào hông Tống. Mũi này họ cũng không thành công. Họ mở thêm mũi thứ ba từ phía Nam là Đại lý đánh vào sau lưng vùng Tứ xuyên và Đại Việt đánh vào đánh vào Lưỡng Quảng. Họ thất bại ở Đại Việt. Tứ xuyên của Tống đang lâm nguy vì bị đánh vào hai mặt. Ta cứu Tống bằng cách trả các cao thủ Hán cho họ. Như vậy là ta tăng viện cho Tứ xuyên. Hiện Tứ xuyên trở thành ải địa đầu trấn Mông cổ cho ta. Tứ xuyên yên thì Đại Việt yên.

Vũ Uy vương gật đầu tán thành. Dã Tượng tiếp:

– Hai là, tại sao ta không đem cao thủ Tống cho các tướng trấn thủ Lưỡng Quảng, gần ngay phía Bắc của ta, mà lại đem sang Tứ xuyên? Thưa, vùng Lưỡng Quảng lên tới mặt trận Kinh châu là nơi đang giao chiến với Mông cổ quá xa, đem các võ lâm cao thủ vào vùng này thì thà để ở bên mình còn hơn.

Thúy Hồng nhìn Vũ Uy vương:

– À thì ra thế!

– Ba là, các cao thủ Tống mà đánh giặc trên đất mình dù họ có cố gắng mấy, cũng không bằng đánh giặc bảo vệ đất nước họ. Ta đưa họ về Tứ xuyên là quê hương của họ, họ sẽ dốc toàn lực ra đánh ngoại xâm.

Vũ Uy vương mỉm cười:

– Các em thấy rõ ba điều Dã Tượng luận chưa? Nhưng đó là hư, là phân. Các em có thấy một điều không hợp lý là, Vương Kiên hiện đang bị Mông cổ uy hiếp; mấy trăm cao thủ Hán, là một lực lượng mạnh vô cùng, ta trả cho ông thì ông mừng vô hạn. Việc gì ta phải gửi đặc sứ lên điều đình trước? Thôi Dã Tượng nói tiếp đi.

– Đúng như Hồng Nga bàn, tại sao mâm cỗ thịnh soạn đang trong tay ta, mà ta lại bưng cho Tống? Em ơi! Ta không hề biếu không, mà có điều kiện như bình dân nói: tiền trao, cháo múc.

Hồng Nga reo:

– Em hiểu rồi, đặc sứ Dã Tượng sẽ đặt điều kiện với Tống: Đại Việt biếu Tống mâm cỗ cao thủ, thì Tống phải tặng lại Đại Việt món gì chứ?

– Đúng vậy. Từ lúc Hồng Nga theo sứ đoàn, anh tưởng em chỉ xinh đẹp, hát hay, đàn giỏi. Thực không ngờ thông minh như vậy.

– Em là con cháu Bình Ngô đại tướng quân, Công chúa Thánh Thiên mà. Em xin góp thêm ý: nếu ta biếu Tống mâm cỗ cao thủ, chỉ là thịt, cá thôi, ta nên thêm xôi, chè, trái cây, thì ta có quyền treo cao giá.

Vương phi mở to mắt hỏi:

– Ý em nói?

– Hồi Mông cổ đánh ta, đám Hoa kiều lập thành mấy Vệ quân ( ghi chú 1 vệ là 2.400 người) theo Mông cổ. Sau trận Đông bộ đầu, họ đầu hàng, tự giải tán. Phàm khi con người đã cắp gươm, cầm kiếm rồi, khó mà từ bỏ được. Ta để đám Hoa kiều này sống lẫn với dân chúng, nếu có dịp, chúng lại tụ nhau làm loạn, thì là mối lo cho ta. Nhân dịp này, ta họp các bang hội Hoa kiều lại, nói cho họ biết Mông cổ đang uy hiếp Hoa hạ. Ta khích động lòng yêu nước của họ, rồi tập trung họ lại thành mấy Vệ quân. Ta võ trang cho họ, huấn luyện họ dùng Đao quất, Khiên mây chống Lôi kị, rồi trao cho Tống cùng các cao thủ. Thế là ta vừa quét rác, vừa đem rác làm món hàng bán cho Tống.

Vũ Uy vương, vương phi, Tạ Quốc Ninh, Dã Tượng đều kinh ngạc về đề nghị của Hồng Nga. Tạ Quốc Ninh khen:

– Thầy già rồi, trí lự không nhậy cảm như xưa nữa, thầy không nghĩ tới điều con nghĩ. Vương, vương phi cũng không nghĩ tới. Con nói đúng, con là con cháu của Công chúa Thánh Thiên.

Vũ Uy vương nhìn Thanh Nga:

– Bây giờ em hiểu rõ tại sao Tạ hầu lại quyết gửi Thúy Hồng, mà không gửi em. Bởi đây là cuộc điều đình cực kỳ quan trọng, Dã Tượng tuy đã học tiếng Hán vùng Lâm An cũng khá, nhưng không đủ trong cuộc trao đổi quan trọng này.

Vương nhấn mạnh:

– Các em thử đoán xem, ta gửi Dã Tượng đi, như Hồng Nga nói: Đại Việt biếu Tống mâm cỗ cao thủ, thì Tống phải tặng lại Đại Việt món gì chứ?

Thanh Nga đã bớt nẫu, nàng nói:

– Trong lúc bị Ngột A Đa bắt, em nghe A Đa nói truyện với một người trang phục Đại lý, bằng tiếng Việt. Câu truyện có thể tóm lược như sau: vùng biên giới ẩn náu rất nhiều bọn vong quốc, bọn đầu trộm đuôi cướp Việt, từng chạy sang Tống kiều ngụ. Tống cấp đất hoang vùng giáp biên Đại lý cho bọn này khai thác thành châu, động sinh sống. Chúng tổ chức quân đội, rồi thỉnh thoảng kéo về nước cướp bóc, xưng là con cháu vua Lê, con cháu vua Lý; thậm chí con cháu vua Đinh. Hiện giờ chúng đang gửi người sang Mông cổ, xin phong cho làm An Nam Quốc vương, tình nguyện làm gian tế, đi tiên phong đánh Đại Việt. Năm trước đây một bọn cướp xưng là con cháu vua Lý, đem một vạn lâu la, năm nghìn ngựa theo Ngột Lương Hợp Thai vào cướp phá. Bây giờ ta đặt điều kiện với Tống rằng: bọn gian mà Tống che chở, hiện chúng theo Mông cổ, như lưỡi kiếm đâm sau lưng Tống. Vậy sao Tống không bóp cổ chúng chết đi? Đương nhiên Tống phải diệt đám này. Nhưng đánh chúng thì Tống hao binh tổn tướng, trong khi chủ lực không đủ đối phó với Mông cổ. Ta sẽ đề nghị Tống để Đại Việt bắt gian tế Việt dùm Tống.

Hồng Nga reo:

– Hay, Thanh Nga hay. Đánh giết hết mấy châu, động cướp này, thì mình bớt đi mối lo gian tế cõng rắn về cắn gà nhà.

Dã Tượng xua tay:

– Không! Ta không giết hết các châu, động này.

Hồng Nga đứng dậy chắp tay:

– Em xin nghe cao kiến của anh.

– Bọn cầm đầu thường sai người về 207 châu, động biên giới của ta dụ dỗ theo chúng. Khi họ sang các châu, động của chúng thì chúng quản chế gắt gao, bắt làm việc như trâu như ngựa. Dân chúng thù hận bọn tướng cướp này vô cùng tận. Nay nhân Tống phải lo chống Mông cổ, ta tiến quân vào bắt bọn thủ lĩnh, giải phóng cho dân chúng. Ta cử người có tài, có đức đặt lên làm động chủ, châu chủ. Thế là các vùng đất thuộc Tống, Đại lý là những mũi kiếm đâm ta, bây giờ ta biến thành lãnh thổ ta. Các đạo quân này lại là đạo quân tiên phong, phòng vệâ biên giới cho ta.

Mặc Thanh Nga ngồi buồn rười rượi, vương nói với Dã Tượng:

– Đường từ đây đi Hợp châu không xa. Ta cho Thúy Hồng đi với cháu. Dọc đường mọi đối thoại cháu để Thúy Hồng lo liệu. Tuyệt đối tránh dụng võ, cần lấy nhu để giải quyết mọi sự. Ngày mai cháu lên đường.

Vương trao cho hai người mỗi người một cái hổ phù :

– Cấp bậc của Mông cổ chia ra Thập phu trưởng chỉ huy 10 tên kị binh. Bách phu trưởng chỉ huy 10 Thập phu. Thiên phu trưởng chỉ huy 10 Bách phu. Vạn phu trưởng chỉ huy 10 Thiên phu. Ngột Lương Hợp Thai chỉ được cấp hổ phù cho Thập phu, Bách phu, Thiên phu thôi. Còn Vạn phu trở lên do Hốt Tất Liệt cấp. Đây là hai tấm hổ phù của Hốt Tất Liệt. Hốt Tất Liệt cấp cho các cao nhân võ học Trung quốc theo trong quân. Hồi đánh Thăng long, các cao nhân hàng Đại Việt họ trao cho Khu mật viện. Nay ta xử dụng, giả làm người của Hốt Tất Liệt. Người cầm hổ phù này được đối xử như một Vạn phu trưởng. Nếu như bọn Mông cổ có gây rắc rối gì thì hai cháu đưa hổ phù này ra, chúng phải sợ. Ta cũng cho một cặp chim ưng theo cháu, làm cầu liên lạc.

Tạ Quốc Ninh giảng cho Dã Tượng:

– Chúng ta đang ở Nguyên dương. Nguyên dương là thị trấn biên giới Đại lý, Đại Việt. Hai con thuê xe mà đi, không nên đi xe của mình. Xe của mình là chiến xa, do chiến mã kéo. Xe mình không có mã số của Đại lý thì không được quyền di chuyển trên đất nước người.

Hầu chỉ lên bản đồ:

– Từ Nguyên dương đi Hợp châu phải tới Độ khẩu bằng xe. Độ khẩu nằm trên Kim sa giang, chỗ này là biên giới Đại lý với Tứ xuyên của Tống. Phía Nam sông do Mông cổ trấn đóng. Phía Bắc do Tống. Hai bên đang giao chiến cả chục trận, bất phân thắng bại. Đến Độ khẩu thì dùng thuyền xuôi Trường giang đi Hợp châu.

Thúy Hồng hỏi:

– Thưa thầy, từ đây đi Độ khẩu chúng con phải mất thời gian bao nhiêu lâu? Qua những thị trấn nào?

– Ba ngày hai đêm. Các con khởi hành sớm thì tối tới huyện lỵ Trấn trì. Tại đây có một cái hồ cảnh trí rất đẹp. Nghỉ đêm. Hôm sau đi Côn minh. Nghỉ đêm tại Côn minh rồi sáng ngày thứ ba đi Độ khẩu. Nghỉ đêm tại Độ khẩu, sáng ngày thứ tư dùng thuyền đi Nam an rồi tới Hợp châu. Cũng có đường từ Trấn trì đi tắt qua Giang an. Song ít khi xe chịu chở khách qua đường này vì băng rừng nguy hiểm lại ghồ ghề.

Vương phi Ý Ninh nói với Dã Tượng, Thúy Hồng:

– Moị việc do Dã Tượng quyết định, nhưng chi tiêu, mua sắm thì Thúy Hồng đảm trách.

Nói rồi phi trao cho Thúy Hồng mấy nén bạc, mấy nén vàng:

– Đây là vàng, bạc Đại Việt. Trong ba lọai vàng, bạc của Tống, của Đại lý, của Đại Việt; thì vàng, bạc Đại Việt có giá nhất, vì thuần. Còn vàng bạc Tống, Đại lý không thuần.

Thanh Nga dặn Thúy Hồng:

– Em trao cho chị nuôi ông chồng khổng lồ của em. Anh ấy ăn nhiều gấp ba người thường. Chị nuôi sao cho béo, lúc về mà anh ấy gầy thì em bắt đền đấy.

Dã Tượng trở về lều mình, chuẩn bị hôm sau lên đường. Vừa vào trong lều, bất giác chàng giật bắn người lên, vì một bóng đen vỗ vào vai chàng hai cái rồi tung mình chạy. Nghi là gian tế, chàng dùng khinh công đuổi theo. Tuy trong bóng đêm, nhưng chàng cũng nhận ra bóng đen đó là một nhà sư. Nhà sư như trêu chàng, cứ chạy trước chàng khoảng 10 trượng. Chàng đuổi nhanh, nhà sư cũng chạy nhanh. Chàng đuổi chậm, nhà sư cũng chạy chậm. Tới một con suối, thình lình nhà sư dừng lại, Dã Tượng đâm sầm vào nhà sư. Người chàng bật tung về sau hơn hai trượng. Vừa đứng vững, chàng bị nhà sư dùng tay đẩy vào ngực. Chàng dùng tay phải dẩy vào tay nhà sư. Nhà sư đứng vững như tượng đá, mặc chàng vận khí hít hơi đẩy, nhưng không nhúc nhích.

Dã Tượng kinh ngạc, vì là tướng trâu, chàng từng dẩy ngã con trâu mộng như không, thế mà nay đẩy một nhà sư gầy guộc lại không chuyển động.

Thình lình nhà sư vọt mình lên cao, Dã Tượng bị mất đà lộn đi ba vòng mới đứng đậy được.

Nhà sư lên tiếng:

– Người có thể lực cao lớn 8 thước (1 thước=25 cm), nổi danh là voi đồng, tự cho là khỏe nhất trong đội Ngưu binh. Nhưng người chỉ là cái bị thịt mà thôi. Người có ba cái bệu người có biết không?

– Tại sao đại sư bảo tôi có ba cái bệu?

– Này nhé, người cao như vậy mà chạy chậm hơn ta là một cái bệu. Người to lớn như vậy mà đụng vào ta, bị bật tung lên đến mấy trượng là hai cái bệu. Bàn tay người to gấp ba bàn tay ta, mà bị ta đẩy văng đi là ba cái bệu. Người có công nhận không?

Dã Tượng còn đang suy nghĩ thì nhà sư tiếp:

– Ngày mai người lên đường, lĩnh trọng trách của dất nước, biết mình bệu mà không chịu bỏ cái kiêu khí đi, thì sao thành công được?

Dã Tượng biết đây là cao nhân, xuất hiện có mục đích cao xa, chàng khoanh tay:

– A Di Đà Phật! Quốc Kinh này vốn là trẻ chăn trâu, kiến thức hủ lậu. Mong đại sư bổ khuyết cho những khiếm khuyết.

– Ta không đủ tư cách dạy người. Có vị cao nhân trong nhà người sẽ dạy người.

Nói rồi nhà sư vọt mình biến vào rừng. Dã Tượng bâng khuâng trở về lều, thì thấy Hưng Ninh vương ngồi đó từ bao giờ. Chàng hành lễ:

– Cháu xin ra mắt bác.

– Cháu hiểu rõ những gì nhà sư trẻ nói với cháu chưa?

– Cháu u tối lắm. Xin bác đừng tiếc công chỉ dạy.

– Trời cho cháu một cơ thể hùng vĩ, một sức khỏe siêu việt. Bác đã thấy cháu đứng cản chiến mã Mông cổ, hai tay chụp hai chân trước chiến mã, rồi vật ngã. Cháu đã chế ra Đảo mã cửu lộ. Pho võ công này tuy tinh diệu, nhưng phải dùng lực. Lực con người khi đối diện với những người luyện khí công như nhà sư trẻ thì hóa ra vô dụng.

Nghe Hưng Ninh vương giảng, Dã Tượng toát mồ hôi lạnh: mình cứ ỷ vào sức khỏe, cũng may chưa gặp những đối thủ công lực cao, bằng không đã mất mạng rồi. Hưng Ninh vương như đọc được suy nghĩ của Dã Tượng. Vương nói:

– Từ hôm được Hưng Đạo vương nhận làm con nuôi, con đã học được những loại võ công nào?

– Tuyên minh thái hoàng thái hậu đã dậy con bộ Đông A chưởng pháp, bộ Thiên la thập bát thức. Vũ Uy vương đã dạy con tất cả những võ công căn bản của phái Đông A. Vương phi giảng cho con tất cả tinh yếu võ thuật Đại Việt.

– Như vậy con chỉ mới học ngoại công, rồi dùng sức khỏe xử dụng, chứ chưa học khí công?

– Vâng !

– Được, ta sẽ dạy con. Hôm nay ta dạy con một thức khí công nhà Phật, gọi là Tiêu sơn hóa tinh pháp.

Hưng Ninh vương giảng:

– Phàm muốn làm anh hùng, muốn thành một đại tướng, một trượng phu thì phải thoát ra khỏi đường tình. Cái tên A Truật kia vì say mê Ý Ninh, suýt mất mạng tại Phù lỗ, mà vẫn chưa tỉnh. Con còn trẻ, phải lấy đó làm gương.

Dã Tượng vốn coi ông bác mình như một vị Bồ tát, chàng hỏi:

– Thưa bác, con nghĩ làm trai ai cũng lấy vợ sinh con. Như bác nói, phải thoát khỏi đường tình thì làm sao mà có con nối dõi tông đường được?

Hưng Ninh vương nhìn Dã Tượng như thầy nhìn trò:

– Con hỏi như vậy thì con chưa hiểu rõ giữa việc lấy vợ, sinh con và đường tình. Đường tình là gì? La tình yêu trai gái quá độ, đến si mê, đến quên cả luân lý, quên cả gia cương, quên cả nguy hiểm, quên cả đất nước.

– Dạ con hiểu rồi. Nếu như trai gái kề cận nhau, thần trí u mê, không giữ được thân thể, có cách nào vượt qua không?

– Có! Để bác dậy cho.

– Con xin lắng nghe lời bác.

– Khi gặp hoàn cảnh bị sắc đẹp thu hút, tạo thành những ham muốn dục vọng, thì phải lấy những đạo lý cao đẹp ra trấn áp. Đạo lý đó như: lời dậy của cha mẹ, của thầy, những ý tưởng cao đẹp trong chủ đạo tộc Việt, những lời dậy thâm sâu trong kinh Phật. Như con, con lấy những cảnh Mông cổ giết người tàn bạo ra trấn áp rằng “ Ta phải gạt bỏ những lạc thú nhất thời, bỏ hết để bảo quốc, để cứu dân”.

– Nếu như nhục dục mạnh quá đáng thì phải làm sao? Như tát mình, bẹo mình có được không?

– Có! Trong nhà Phật có một thức Thiền công, mang tên Tiêu sơn hóa tinh pháp. Thức này giúp tăng ni vượt qua được những cơn đòi hỏi của thân xác. Đạo-lý Phật-giáo chủ diệt dục: tham, sân, si. Dâm là một giới bị cấm ngặt. Nhưng các tăng-ni tu luyện khí công thì tinh, thần, khí phải đồng thăng tiến. Mà cả ba thăng tiến, thì dục cũng tăng theo, nên đường tu hành gặp khó khăn. Vậy phải làm sao hóa tinh di, mới có thể tiếp tục đường tu.

– Con không hiểu rõ những gì là tinh, là khí.

– Con không hiểu là phải. Này con, tạo hóa sinh ra loài người, đều có tinh khí do cha mẹ (Tiên thiên khí) và do ăn uống (Hậu thiên khí)ï . Ngoài ra nội thể tự sinh, ngoại cảnh kích động, khiến tham dục. Khi tham dục, tinh-khí chạy hỗn loạn. Hỗn loạn không qui liễm được thì trở thành cuồng loạn, thần bị ức chế dễ lạc vào tà ma, dâm đãng. Khi luyện ngoại-công, khí-công, chủ yếu là đi đến tinh, thần, khí sung mãn. Nhưng nếu cứ để tinh khí chạy loạn, rồi tìm thú nhục dục, để tinh thoát ra ngoài, hoặc thoát ra trong giấc mộng… Thì trong ba yếu tố chỉ còn thần, khí mà thôi. Như vậy chân khí không mạnh, thần lực không phát đầy đủ, nên chi phải dùng khí-công thu liễm tinh-khí.

Dã Tượng như người mù được mở mắt. Chàng phát biểu:

– Con thử tóm lược, xin bác chỉ cho chỗ sai:

Tinh khí nảy sinh do ba nguyên lý:

Do cơ thể tự nảy sinh.
Ngoại cảnh như ăn, uống, ngắm nhìn.
Nội tâm như đọc sách suy tư.
Tập luyện. Tập luyện để tăng cường, tinh, thần, khí.

– Giỏi. Nếu để tinh xuất, thì chỉ có thần, khí mạnh. Thần lực không phát ra được. Vậy cần thu liễm tinh lại, không để xuất ra ngoài.

– Thưa bác tại sao khi tinh khí sung mãn thì dương vật chướng lên?

– Theo Thiền-Việt thì khi tinh khí sung mãn, dương vật chướng lên là do các nguyên nhân sau: nhìn cảnh dâm bôn, tư tưởng không tự chế, tức thần yếu. Đọc sách, liên tưởng, chia trí, không giải trừ tạp niệm, tư tưởng tự do đi vào đường dâm đãng. Khi nam gần nữ, nữ gần nam. Bị kích thích bởi ngoại lực, nội khí. Trong giấc ngủ tư tưởng buông lỏng.

Vì vậy Thiền-khí-công Việt đưa ra 4 phương pháp thu liễm tinh khí, tức luyện công hóa khí, để giúp dễ tu luyện tập võ công, nhất là cho Phật-gia đệ-tử giải thoát được những cơn ám ảnh sinh lý. Các thức đó là hóa tinh pháp.

Vương moi trong bọc ra ba miếng gỗ trầm rất mỏng, trên khắc chữ cùng đồ hình trao cho Dã Tượng:

– Đây là yếu chỉ Tiêu sơn hóa tinh pháp. Con giữ lấy, khi rảnh rỗi thì mang ra luyện. Trước là công lực thêm mạnh, sau là thần trí thanh thản. Ba là chống được nhục dục đòi hỏi.

Vương lại đưa cho Dã Tượng tập sách mỏng:

– Đây là yếu chỉ của thượng thừa khí công Đại Việt tên Vô ngã tướng thiền công. Muốn luyện Vô ngã tướng thiền công thì phải thông một trong ba kinh Kim cương, Lăng già, Tượng đầu tinh xá. Tuy nhiên, những người tâm tính chân chất như con thì chỉ cần thông Bát nhã ba la mật đa tâm kinh cũng đủ. Con có biết kinh này không?

Gì chứ kinh Bát nhã thì hồi thơ ấu ở trong chùa, Dã Tượng đã tụng hàng trăm, hàng nghìn lần:

– Thưa bác có ạ. Con thuộc lòng kinh này.

– Con đọc thử .

Quán tự tại Bồ tát,
Hành thâm Bát nhã Ba la Phật đa thời,
Chiếu kiến Ngũ uẩn giai không.
… …
Sắc bất dị không,
Không bất dị sắc,
Sắc tức thị không,
Không tức thi sắc.
… …

– Con có hiểu bốn câu này không?

Dã Tượng ngây người ra, rồi chắp tay:

– Thưa bác con chỉ tụng như con vẹt, mà không hiểu gì. Xin bác thương xót khai tâm cho con.

– Được ta sẽ vì con mà giảng.

Vương giảng chi tiết Ngũ uẩn, Lục tặc, thế nào là sắc, thế nào là không. Tại sao sắc, không lại không khác nhau. Cuối cùng vương chỉ vào viên gạch:

– Con xòe bàn tay ra, rồi vỗ thử lên viên gạch một cái, xem lực của con đến đâu.

Dã Tượng làm theo, viên gạch vỡ làm ba, bốn miếng. Bàn tay chàng đau ê ẩm. Vương lại bảo:

– Con dùng ngón tay chỏ đâm vào cái cọc lều một cái xem sức ngón tay ra sao.

Dã Tượng làm theo. Ngón tay chàng đau nhói một cái.

– Con nhún chân, nhảy lên cao cho bác xem nào!

Dã Tượng tung mình lên, nhưng chân không qua khỏi nóc lều.

Vương mỉm cười như Phật Di Lặc:

– Con ngồi theo thức Kiết già! Rồi, hai tay chắp trước ngực! Nhắm mắt lại! Rồi! Bỏ ra nhãn, nhĩ, tỵ, thiệt, thân, ý. Rồi… Con hít hơi dẫn khí theo vòng Tiểu chu thiên.

Dã Tượng như người đi vào giấc mộng, không còn biết sự vật xung quanh. Cứ như vậy chàng trầm vào cõi vô hư vô không biết bao nhiêu lâu. Thình lình có bàn tay để lên huyệt Bách hội, chàng tỉnh lại, mở mắt ra. Hưng Ninh vương bảo:

– Con thử nhảy lên xem nào.

Dã Tượng tung mình lên cao, chân chàng vọt qua nóc lều đến nửa trượng. Chàng chưa hết kinh ngạc, Hưng Ninh vương chỉ viên gạch khác:

– Con thử vỗ lên viên gạch xem.

Dã Tượng vỗ thử, bộp một cái, viên gạch vỡ nát ra thành miếng nhỏ. Vốn thông minh, chàng hiểu ngay:

– Ông bác đã dạy chàng thức Thiền công tối cao, nên thân thể nhẹ nhàng, bàn tay đầy chân khí, khiến gạch vỡ vụn. Ta thử đâm ngón tay vào gỗ xem.

Chàng chĩa ngón tay chỏ đâm vào cột lều. Phụp một tiếng, ngón tay chàng đục một lỗ sâu vào cột đến hai đốt.

Chàng mừng chi siết kể:

– Đa tạ bác đã dậy con…

Khi nhìn lên thì Hưng Ninh vương đã không còn ngồi đó nữa. Chàng than:

– Chúng nhân nói ôâng bác mình là một vị Bồ tát rồi, quả đúng. Mình mới tập một lúc mà công lực đã biến đổi như vậy. Nếu mình luyện năm này qua năm khác thì khi xử dụng Đảo mã cửu lộ sẽ mạnh vô biên.

Sáng hôm sau, trong khi mọi người còn mơ màng trong giấc điệp, thì Dã Tượng cùng Thúy Hồng mặc quần áo như người Đại lý, ra bến xe Nguyên dương.

Nguyên dương có ba bến xe lớn. Một bến xe đi Đại Việt, có ba hãng xe mang tên Phù đổng, Thanh long và Long mã. Hầu hết xe của các hãng này đều lớn, do bốn ngựa kéo. Mỗi xe chở từ 15 tới 20 người. Một bến xe rất phức tạp, nhiều xe, xe đều nhỏ, chỉ có một ngựa đi đường gần, không quá trăm dặm, mỗi xe chỉ chở được 2 đến 3 người. Bến xe thứ ba tổ chức rất quy mô, có bốn hãng mang tên Phi mã, Thần mã, Linh mã và Thiên mã. Xe của bốn hãng này có hai loại, song mã và tứ mã. Song mã chở từ 6 người tới 10 người. Tứ mã chở 15 người tới 20 người.

Dã Tượng đến hãng Phi Mã, ngỏ ý muốn đi Độ khẩu. Chủ hãng là một trung niên thiếu phụ khá xinh đẹp. Bà lắc đầu nói tiếng Quảng:

– Quan khách không gặp may rồi. Hiện hãng của chúng tôi không có chuyến nào đi đường xa như vậy. Phải khi nào đủ 15 người trở đi chúng tôi mới tổ chức một chuyến. Vậy xin quý khách phải chờ.

Bà nhắc lại:

– Ít ra là mười ngày.

Thúy Hồng hỏi:

– Có trường hợp nào ngoại lệ không?

– Có đấy. Trước hết quý khách đi Côn minh. Tới Côn minh quý khách thuê xe hãng khác đi Độ khẩu. Hoặc giả quý khách bao trọn chuyến đi thẳng Độ khẩu thì mau hơn.

Thúy Hồng đưa mắt nhìn Dã Tượng rồi hỏi:

– Thế giá cả ra sao?

– Nếu quý khách chờ chuyến đủ 20 người thì 1 lượng một người. Dọc đường có nhiều trạm nghỉ, quý khách được mời uống nước, ăn ngày ba bữa cơm. Đến Trấn trì, Côn minh quý khách qua đêm tại hãng của chúng tôi. Còn như quý khách bao chuyến thì chỉ 12 lượng bạc thôi.

– Vậy thì tôi xin thuê bao một chuyến đi Độ khẩu.

Thiếu phụ nhìn Dã Tượng, Thúy Hồng, bà ta thấy hai người trang phục như người Đại lý thì tưởng là người địa phương. Bà nói tiếng Thái:

– Tôi sẽ cho xe Phi mã số 3 chở quý khách. Phu xe tên Phi mã đệ tam. Gọi tắt là A Tam. Không biết quý khách đây xưng hô thế nào?

Thúy Hồng trả lời bằng tiếng Thái:

– Chồng tôi họ Trần. Xin cho chúng tôi lên đường ngay.

Xe được đánh ra sân hãng.

Thúy Hồng móc túi trả 12 lượng bạc. Bà chủ thấy trên nén bạc có hình con chim ưng thì vui vẻ:

– Bạc Đại Việt đây. Giá bạc Đại Việt rất cao, vì bạc ròng không pha như bạc Tống hay Đại lý. Chúc quý khách thượng lộ bình an.

Chiếc xe tứ mã khá lớn, dùng để chở 20 người, bây giờ chở có hai người, nên ghế được bỏ bớt lại.

Tuy chỉ mới học võ từ hôm theo sứ đoàn, nhưng bản lĩnh Thúy Hường cũng kha khá, nàng tung mình kên xe ngồi vào ghế giữa. Gió thổi làm y phục nàng bay phất phới, Dã Tượng suýt xoa:

– Em tôi đẹp quá.

—->Hồi thứ 58

Advertisements
This entry was posted in 10- ANH HÙNG ĐÔNG-A, GƯƠM THIÊNG HÀM TỬ. Bookmark the permalink.