ANH-HÙNG ĐÔNG-A DỰNG CỜ BÌNH MÔNG (Q.I : Hồi 10)

Vẫn tại trại hè Về-nguồn 1996.

Chiều ngày 1 tháng 9 .

Tôi làm thầy đồ kể chuyện đã được ba buổi. Số thính giả tăng lên bốn người nữa. Một cháu gái, dường như đã có chồng, vì tôi thấy trên ngón tay cháu đeo nhẫn. Cháu hỏi:

– Cảm-Thánh hoàng thái hậu khởi từ việc cầm quyền rồi chuyên quyền, rồi tiến tới dâm dật. Lại từ dâm dật tiến xa hơn là muốn cướp ngôi vua của con cho tình nhân Đỗ Anh-Vũ. Anh-Vũ chết, bà lại muốn cướp ngôi vua của con cho Lưu Kỳ. Thưa bác, thế trong lịch sử Việt-Nam, trước Cảm-Thánh thái hậu đã có bà thái hậu nào dơ bẩn như vậy chưa?

– Chưa! Trước hết phải phân cái đốn mạt của Cảm-Thánh ra làm bốn. Một là cầm quyền, hai là chuyên quyền, ba là dâm dật, bốn là cướp ngôi vua của con cho tình nhân. Cuối thời Đinh đã có Thái-hậu Dương Vân-Nga, vợ vua Đinh Tiên-hoàng. Bà cầm quyền, chuyên quyền, rồi cướp ngôi vua của con, cho tình nhân là Lê Hoàn, tức vua Lê Đại-hành. Khi lên ngôi vua, Lê Hoàn phong cho bà làm Đại-thắng hoàng-hậu. Giữa thời Lý, có Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Bà cầm quyền, làm cho dân giầu, nước mạnh. Bắc đánh Tống, phá tan cuộc cách mạng về kinh tế, quân sự của Vương An-Thạch. Đến con dâu bà là Chiêu-Hiếu thái hậu cũng cầm quyền, chuyên quyền, muốn cướp ngôi của cháu cho em ruột là ác nhân Đỗ Anh-Vũ. Rồi cháu dâu bà là Cảm-Thánh thái hậu….

Một cháu trai, tuổi có lẽ trên ba mươi hỏi:

– Như thầy giảng, con thấy nữ nhân thường làm cho đất nước suy vi, thế sao con thấy trong những tác phẩm của thầy, thầy thường đề cao đàn bà quá đáng?

– Tôi không hề đặc biệt đề cao, mà tự lịch sử ta có nhiều nữ anh hùng. Cháu cho rằng đàn bà làm cho đất nước suy vi ư? Trong lịch sử Việt-Nam, số nữ nhân làm hại nước chỉ bằng một phần mười các nữ anh hùng. Về nữ nhân hại nươc, thì triều Lý có các bà Chiêu-Hiếu vợ Sùng-hiền hầu; Cảm-Thánh vợ vua Thần-tông, Chiêu-Thiên vợ vua Anh-tông, và sau này vợ vua Cao-tông nữa! So với các nữ đại anh hùng thì nhiều vô cùng. Ta hãy kể những vị có đại huân công, được thờ kính: Công chúa Hồng-Châu em vua Lý Thái-tổ. Con vua Lý Thái-tổ có công chúa An-Quốc, Lĩnh-Nam Bảo-Hòa. Con vua Lý Thái-tông có công-chúa Bình-Dương, Kim-Thành, Trường-Ninh. Con vua Lý Thánh-tông có các công chúa Thiên-Thành, Động-Thiên, Thiên-Ninh. Con vua Lý Anh-tông có công chúa Đoan-Nghi. Ngoài ra còn các nữ tướng khét tiếng đương thời như Thân Bảo-Hòa thời vua Thánh-tông. Trần Thanh-Nguyên, Nguyễn-thị Trinh-Dung, Lê Ngọc-Nam, Vũ Thanh-Thảo, Trần Ngọc-Huệ, và mười hai nữ tướng tuẫn quốc trong thời gian kháng Tống. Cháu đừng vì một cái lá vàng rơi, mà kết luận rằng trong rừng toàn lá vàng.

… Bây giờ bác cháu ta trở lại với anh hùng Lý Long-Xưởng, Trần Lý, Trần Thủ-Huy, Tô Trung-Từ, Phùng Tá-Chu, Lý Đoan-Nghi trong việc bảo vệ đất nước.

Hồi thứ mười

Phong trần mài một lưỡi gươm,
Những phường giá áo, túi cơm sá gì?

(Đoạn-trường tân thanh)

Tại đế đô Thăng-long, nước Đại-Việt.

Hôm ấy là ngày rằm tháng chín, trăng sáng vằng vặc. Mặc dù trong không gian có đôi ba ngọn gió heo may hiu hắt đem cái lạnh len lỏi khắp phố phường. Bấy giờ đang là lúc thịnh thời của Đại-Định hoàng-đế, biên cương không giặc, trong nước vô sự, nên thông thường rằm là ngày trai thanh, gái lịch dắt nhau đi chơi dưới trăng. Nhưng hôm nay, đường phố vắng lặng.

Đế đô im lìm, không ai dám ra khỏi nhà. Người người đều cảm thấy như có một biến cố bất tường sắp đến, vì những cuộc chuyển quân rầm rộ từ trưa đến chiều. Ngày hôm qua, năm đội Phụng-quốc vệ được lệnh tập trung. Ai cũng biết Phụng-quốc vệ không phải là các đạo binh của triều đình, mà là những đội thị vệ riêng của Cảm-Thánh hoàng thái hậu. Đám quân này được tuyển từ bọn vong mạng, bọn du thủ, du thực, bọn tù tội được ân xá. Đây là lần đầu tiên chúng ra trận. Với trên năm trăm người, chúng chuẩn bị cực kỳ ồn ào, suốt từ trưa, đến chiều, qua đêm. Cho đến sáng hôm nay cũng chưa xong. Chúng gọi nhau ơi ới, từ biệt gia đình, từ biệt bạn bè để lên đường… đã làm cho Thăng-long náo loạn suốt một ngày, một đêm. Hôm nay, sang giờ Ngọ thì đám này tập hợp ở của Quảng-phúc. Sau đó di chuyển đến bến Tiềm-long, rồi hạm đội Aâu-Cơ chở đi.Người dân thì thầm: Dường như có giặc ở trấn Thiên-trường.

Trong khi ngoài thành ồn ào như vậy, mà tại Hoàng-thành, Đại-Đinh hoàng-đế không biết gì. Hôm nay nhà vua ngự cơm chiều tại cung Chiêu-Linh với hoàng-hậu. Nhà vua chợt nhận thấy bọn thái giám, bọn Phụng-quốc vệ cung Chiêu-Linh biến đâu mất. Xung quanh nhà vua, xuất hiện cả trăm cung nga lạ mặt, mà nhà vua chưa từng thấy bao giờ. Tuy nhiên, vì nhà vua được đào tạo thành cục bột, vô tư, nên ngài cũng không thắc mắc gì.

Khi trời chập choạng tối, thì cung nga báo:

– Có Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Tăng Quốc, trưởng ty Mật-sự thuộc Khu-mật viện xin cầu kiến.

Không đợi chỉ nhà vua, hoàng-hậu vẫy tay:

– Cho vào.

Tăng Quốc tâu:

– Thái-tử, cùng hai đại thần là Thái-sư Lưu Khánh-Đàm, Thái-phó Hoàng Nghĩa-Hiền; thỉnh bệ hạ giá lâm điện Uy-viễn để nghe tâu về tình hình xã tắc khẩn cấp.

Hoàng đế kinh ngạc, khi thấy hoàng-hậu cũng mặc võ phục, nai nịt, lưng đeo bảo kiếm, để tháp tùng. Nhà vua hỏi:

– Cái gì sắp xẩy ra?

Hoàng-hậu đáp:

– Bệ hạ cứ đến đó, sẽ biết.

Nhà vua cùng hoàng-hậu lên xe. Hai bên có bốn chục cung nga, lưng đeo bảo kiếm hộ vệ. Liếc mắt nhìn về cung Long-thụy, tẩm cung của nhà vua, có đội võ sĩ do nghĩa đệ của Long-Xưởng là Tăng Khoa với Đào Như-Như, đứa con gái của Nhạc-quan Đông-cung chỉ huy. Xa xa, quanh cung Cảm-Thánh có ba đội võ sĩ, do Bùi Trang-Hòa, cháu gọi Thần-phi Bùi Chiêu-Dương bằng cô chỉ huy. Nhà vua hơi chôt dạ, ngài nhìn về phía điện Càn-nguyên, lại cũng có võ sĩ dàn ra do nghĩa muội của công chúa Đoan-Nghi là Từ Thụy-Hương canh phòng. Tại điện Uy-viễn có rất nhiều người. Người nào cũng mang vũ khí do công chúa Đoan-Nghi với Thiện-nhân Trần Thủ-Huy thống lĩnh,

Xe ngừng lại.

Lễ quan hô:

– Hoàng-thượng giá lâm.

Lễ nghi tất.

Nhà vua đưa mắt nhìn: Các đại thần hiện diện đầy đủ.

Thái-tử Long-Xưởng tâu:

– Theo hội điển sự lệ từ thời đức Thái-tổ thì, Lưu thái sư, Hoàng thái phó đều là thầy của phụ hoàng, được hưởng vinh huân: Khi vào chầu được ngồi ghế, không phải quỳ gối, tâu không phải xưng tên. Nhưng vì ác nhân Đỗ Anh-Vũ lộng quyền, áp chế phụ hoàng, mà không thi hành. Hôm nay thần nhi xin phụ hoàng chuẩn tấu cho hai vị lão thần được hưởng huân dự đó.

– Hoàng-nhi đã lớn khôn, trí lự lại siêu phàm. Hoàng nhi thấy gì cần chỉnh đốn thì cứ làm. Trẫm chuẩn tấu.

Long-Xưởng kéo ghế:

– Xin kính mời nhị vị ân sư an tọa.

Thái-sư Lưu Khánh-Đàm, Thái-phó Hoàng Nghĩa-Hiền nói lời cảm tạ, rồi ngồi xuống.

Long-Xưởng tiếp tục kéo ghế mời tất cả Kinh-diên quan ngồi, và cũng gọi bằng thầy, thay vì gọi bằng chức tước.

Hồi chiều, các đại thần thấy sứ giả của Đông-cung tới triệu hồi phải vào điện Uy-viễn, là trụ sở của Khu-mật viện, dự cuộc thiết đại triều khẩn cấp; thì biết là có sự. Khi tới nơi, họ không thấy có Phụng-quốc vệ canh phòng, mà toàn võ sĩ, lưng đeo kiếm; họ lại đoán thêm là có biến cố.

Rồi bây giờ, thái-tử tâu xin cho thi hành hội điển sự lệ từ thời đức Thái-tổ, đối với hai đại thần, họ lại kinh ngạc nữa. Vì từ lâu, mỗi khi họ tâu xin thi hành lệ này, thì bị thái-hậu bác ngay. Hơn nữa, từ sau khi Anh-Vũ bị Côi-sơn song-ưng giết, thái-hậu truy phong cho y tước vương, bắt kiêng chữ Anh-Vũ trong ngôn từ, trong văn kiện. Khi nói đến y thì phải gọi là đại vương. Thế mà bây giờ, thái-tử công khai gọi y là ác nhân, thì biết rằng cái triều đình gà mái gáy đã xụp đổ.

Thái-sư Lưu Khánh-Đàm tâu:

– Thần tuân chỉ thái-tử, xin thiết đại triều khẩn cấp, để tâu lên bệ hạ, cùng thông báo với chư đại thần biết: Từ hai năm nay triều đình Tống, có dã tâm chiếm Đại-Việt ta, đặt thành quận huyện. Họ âm thầm đưa người vào tiềm ẩn ở Thăng-long, ở trong Hoàng-thành. Họ định dùng năm đội Phụng-quốc vệ đóng cửa thành, mưu thí bệ hạ, thí thái-tử, tàn sát hết tôn thất, đại thần, rồi tôn một đại thần Tống lên làm vua. Họ muốn bắt chước việc Lê Hoàn cướp ngôi của ấu quân Đinh triều xưa: Hoàn tư thông với thái-hậu Dương Vân-Nga. Dương thái hậu phế con mình xuống, rồi họp quần thần tôn người tình lên làm vua.

Mặt nhà vua tái xanh. Một số các đại thần cũng run lật bật. Nhà vua hỏi:

– Người tình của thái-hậu là Anh-Vũ chết rồi mà? Sao lại có người tình nào nữa? Bây giờ phải làm gì? Trong thành này ngoài năm đội Phụng-quốc vệ ra, trẫm không có đạo quân nào cả. Mười hiệu Thiên-tử binh hiện do Thái-bảo Tô Hiến-Thành đã điều động đi tuần thú ở phương Nam rồi.

Khánh-Đàm tiếp:

– Nhưng rất may, nhờ phúc trạch của tiên đế, nhờ hồng phúc của bệ hạ, thái-tử cùng anh hùng võ lâm đã khám phá kịp thời, và đã dẹp yên.

Nhà vua cùng chư đại than thở ra, như thoát khỏi án tử hình. Nhà vua hỏi:

– Hoàng nhi hãy tâu rõ ngọn nguồn vụ này cho trẫm nghe.

Long-Xưởng chỉ Bảo-Ninh hầu:

– Hoàng thúc quản Khu-mật viện. Xin hoàng thúc tâu lên phụ hoàng.

Bảo-Ninh hầu bước ra quỳ gối:

– Thần Lý Long-Căn, Phiêu-kị thượng tướng quân, lĩnh Uy-viễn đại học sĩ, quản Khu-mật viện, tước Bảo-Ninh hầu kính tâu.

– Khanh bình thân.

– Đa tạ bệ hạ.

Long-Căn đứng dậy tâu chi tiết. Từ việc Trường-bạch song hùng, Hoa-sơn tứ đại thần kiếm bị bắt, bị Kinh-Nam vương giam lỏng ở Thiên-trường. Họ tiếc võ công bị mai một, nên lén chép để lại. Mao Khiêm theo Tống sứ cải táng hài cốt Song-hùng đem về Trung-nguyên. Việc Cảm-Thánh thái hậu định truất nhà vua xuống, tôn Đỗ Anh-Vũ lên làm vua. Bà gửi sứ sang Tống xin phong cho Đỗ Anh-Vũ làm Giao-chỉ quận vương. Tống không chuẩn, ngược lại Tống sai sứ sang phong cho nhà vua. Dịp này Tống cho Mao Khiêm theo làm thông dịch và hướng đạo. Lúc sứ Tống về, Mao ở lại, dạy độc công cho Anh-Vũ. Mao sai các đệ tử là Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên dùng độc công khống chế các tôn sư võ học, các gia, các phái, các đại thần. Người người đều răm rắp tuân theo lệnh y. Y xui Anh-Vũ chuyên quyền để gây cho Đại-Việt hỗn loạn. Giữa lúc đó thì Anh-Vũ bị Côi-sơn song ưng giết. Mao Khiêm tâu về Trung-nguyên, lập tức Tống sai một đoàn mật sứ, đo Ngô Giới cầm đầu, Lưu Kỳ làm phó sang. Bề trong, họ dùng cái mỹ nam tử của Lưu Kỳ , hy vọng giữa lúc thái-hậu mất Anh-Vũ, thì Lưu Kỳ có thể thay thế y. Quả nhiên thái-hậu say mê y ngay. Y nói gì, thái-hậu cũng nghe. Sứ đoàn với y, bề ngoài thì giúp thái-hậu, để tạo cho Đại-Việt có hai lực lượng đối nghịch nhau. Vì vậy mới có triều đình gà má gáy. Họ xui thái-hậu tuyển cho cung Cảm-Thánh năm đội Phụng-quốc vệ. Kỳ thực họ sẽ dùng lực lượng này để thình lình thí nhà vua, giết tôn thất, rồi Thái-hậu họp triều đình gà mái gáy tôn Lưu Kỳ lên làm vua. Thế là Tống không cần đem quân sang, mà chiếm đươc Đại-Việt, đặt làm quận huyện dễ dàng.

Tiếp theo thái-tử Long-Xưởng tâu trình về việc đại tôn sư năm phái họp nhau dẹp loạn. Hiện tất cả các đại thần theo cung Cảm-Thánh đều bị giam lại, gia thuộc bị kiềm chế. Mấy toán Phụng-quốc vệ canh phòng cung Cảm-Thánh, cung Chiêu-Linh, Đông-cung, Khu-mật viện đều bị bắt. Bọn Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên cùng Mao Khiêm đang mang năm đội Phụng-quốc vệ đi Thiên-trường. Phái Đông-a sẽ đánh tan năm đội này.

Cuối cùng thái-tử kết luận:

– Sáu tháng trước, thần nhi âm thầm nhờ các võ phái, mỗi võ phái huấn luyện cho một trăm thị vệ, tổ chức thành đội ngũ. Hiện họ vẫn trang phục theo võ sĩ. Nội ngày mai, thần nhi sẽ mở kho của Phụng-quốc vệ phát quân phục cho họ. Ngoài ra, sáng nay thần-nhi đã ban chỉ cho Khu-mật viện đem các hiệu Thiên-tử binh Ngự-long, Thần-điện, Long-dực, Bổng-nhật về trấn ở ngoại ô Thăng-long.

Lạ-bộ thượng thư Đỗ An-Di hỏi:

– Khải điện hạ, cuộc dẹp loạn của điện hạ quả thực tuyệt mật, không phải đánh một chiêu võ không phải bắn một mũi tên, không đổ một giọt máu mà thành công. Nếu Khai-Quốc vương sống lại cũng phải khen. Tuy nhiên, năm đội Phụng-quốc vệ trên đường đi Thiên-trường, liệu phái Đông-a có dẹp được chúng không? Liệu có xẩy ra cuộc chém giết nhau không?

– Thượng thư an tâm.

Thái-sư Lưu Khánh-Đàm an ủi: Phụng-quốc vệ gồm năm trăm người, nhưng toàn là một loại đầu trâu mặt ngựa, đầu trộm đuôi cướp thì địch sao lại ba trăm đệ tử của phái Đông-a, võ công cao thâm, lại có tổ chức chặt chẽ? Vả đại hiệp Vũ Tử-Mẫn đã có phương pháp đối phó với bọn này rồi.

Đến đó một võ quan bước vào quỳ tâu:

– Thần Lưu Khánh-Bình, Long-nhương thượng tướng quân, trưởng ty Phòng-ngự Khu-mật viện kính tâu.

Nhà vua ban chỉ:

– Khanh bình thân.

– Tâu, chim ưng từ trấn Thiên-trường báo về, sáng nay, thái-hậu ban chỉ sai hạm đội Aâu-Cơ phái năm chiến thuyền chở Phụng-quốc vệ đi Thiên-trường. Khi chiến thuyền vừa tới nơi, thì người của phái Đông-a đã chờ sẵn từ bao giờ. Họ lặn xuống đục thuyền. Hơn trăm Phụng-quốc vệ bị chết đuối. Còn bốn trăm bị bắt sống. Tuy nhiên, phái này không thấy Mao Khiêm, Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên đâu. Hiện tù binh gửi cho Tuyên-vũ sứ Thiên-trường giam lại, chờ triều đình phát lạc.

Nhà vua hỏi Long-Xưởng:

– Xưởng nhi. Con định sao?

Long-Xưởng tuyên chỉ:

– Tướng quân làm chỉ truyền lệnh cho trấn Thiên-trường cạo đầu, sơn vôi chúng, thích chữ Quốc-tặc vào mặt, rồi phân cho các hiệu binh ở biên giới để làm lao dịch.

Khánh-Bình lùi khỏi điện, thì Tăng Quốc vào quỳ gối:

– Thần, Tả-thiên ngưu vệ thượng tướng quân Tăng Quốc kính tâu: Cung Cảm-Thánh có 102 viên quan thì 54 là của triều đình, 48 viên hoàn toàn của cung Cảm-Thánh. Tất cả đã bị bắt. Xin bệ hạ ban chỉ về những người này?

Nhà vua không có chủ trương gì, ngài hỏi Long-Xưởng:

– Ta phải làm gì đây?

– Tâu, đối với các quan của triều đình a dua, không tuân phép nước, thì tạm giam rồi chiếu luật xử tội. Còn bọn quan được tuyển ngoài luật lệ thì là giặc cướp, hãy đem xử tử tận số.

Long-Xưởng hỏi Tăng Quốc:

– Bọn Phụng-quốc vệ còn tại Thăng-long bị bắt bao nhiêu tên?

– Khải điện hạ, mười tám tên.

– Bọn đàn ông giả thái giám, bọn cung nga trong cung Cảm-Thánh bị bắt bao nhiêu tên?

– Tâu, hầu hết chúng theo năm đội Phụng-quốc vệ đi Thiên-trường, chỉ còn lại có mười hai tên thuộc cung Chiêu-Linh và Đông-cung bị bắt mà thôi.

– Đem tất cả bọn chúng xử tử ngay.

Tăng Quốc lùi khỏi diện Uy-viễn.

Nhà vua hỏi:

– Thái-hậu hiện ở đâu?

– Thần nhi đang cho tìm. Khi thần nhi dùng võ sĩ phái Mê-linh chiếm cung Cảm-Thánh thì không thấy thái-hậu. Tra hỏi cung nga, thái giám, thì chúng nói rằng người giả làm một nữ Phụng-quốc vệ, đích thân đi Thiên-trường cứu Lưu Kỳ. Để thần nhi sai chim ưng truyền chỉ cho Tuyên-vũ sứ Thiên-trường, tìm xem người có bị bắt cùng đám tù binh không?

Nhà vua chỉ biết ăn với ngủ, chưa từng thức khuya, lại không quen giải quyết những vấn đề khó khăn, nên đã mệt mỏi. Ngài ngáp dài liên tiếp ba lần, rồi tuyên chỉ:

– Thôi, mọi sự trẫm ủy thác cho Lưu thái sư, Hoàng thái phó phù tá Xưởng nhi. Trẫm hồi cung.

Biết cha không ai bằng con, Long-Xưởng tuyên chỉ:

– Hoàng-thượngï hoàng hồi cung.

Bãi triều.

Thình lình có tiếng quát:

– Khoan!

Rồi bốn người trên trên nóc điện đáp xuống như bốn con đại bàng. Một người dùng Ưng-trảo chụp Đại-Định hoàng-đế. Nhà vua bị khống chế liền. Người đó là Cao Nhị. Một người dùng Hổ-trảo chụp Khánh-Đàm. Ông bị điểm huyệt, ngồi bất động. Người đó là Vương Nhất. Một người dùng Long-trảo bắt Long-Xưởng. Y chính là Đỗ Anh-Hào. Còn người bịt mặt đứng lược trận.

Hoàng-hậu quát lên một tiếng, bà rút kiếm tung ra liên tiếp năm chiêu hiểm độc, tấn công Cao Nhị, khiến y phải lùi lại, rút kiếm nghênh chiến. Y kinh ngạc vô cùng, vì hai năm trước, trong khi hậu giao chiến với Đỗ Anh-Hào, y chỉ ra một chiêu đã khiến hậu lạc bại. Thế mà bây giờ kiếm thuật của bà lại tinh diệu đến như vậy.

Về phía Long-Xưởng, tuy bị bất ngờ, nhưng vương cũng kịp trầm người tránh khỏi thế chụp của Anh-Hào. Vương phát chiêu Loa-thành nguyệt chiếu, đẩy thẳng vào ngực y.

Từ hơn hai năm nay, Anh-Hào vẫn coi Long-Xưởng như đứa con nít, học chưa quá ba cái múa. Y từng bắt Long-Xưởng như bắt ốc. Bây giờ y bị Long-Xưởng phản công, mà chưởng lực lại không có chút kình lực nào. Y thu chiêu về gạt tay Long-Xưởng. Xùy một tiếng, Anh-Hào cảm thấy kình lực của mình mất tăm, mất tích. Trong khi đó Long-Xưởng phát chiêu Kình-ngư thăng thiên, đánh vào hông trái y. Kinh hoàng, Anh-Hào lộn người về sau ba vòng để tránh chiêu chưởng ác liệt. Nhưng y vừa đứng xuống, thì Long-Xưởng phát chiêu Hải-triều lãng lãng, một chiêu võ trấn môn của phái Mê-linh.

Hơn nghìn năm trước, vì con gái nhẹ dạ, vua An-Dương bị Triệu Đà đánh bại mà đưa đến mất nước. Sau khi giết con gái để tạ tội với quốc dân; uất khí bốc lên, ngài ngẫm nghĩ đến năm giai đoạn của quá khứ, rồi chế ra chiêu Hải-triều lãng lãng, kết tụ tinh hoa cuộc đời, phát tiết nỗi uất hận. Năm giai đoạn đó gồm: Giai đoạn một, là thời niên thiếu cùng Phương-chính hầu Trần Tự-Minh, Cao-cảnh hầu Cao Nỗ, Vạn-tín hầu Lý Thân, Trung-tín hầu Vũ Bảo-Trung kết bạn. Giai đoạn hai, ngài cùng bốn sư đệ khởi nghĩa đánh vua Hùng. Giai đoạn ba, lên làm vua, lập ra triều đình Âu-lạc. Giai đoạn bốn giết tướng Tần là Đồ Thư, đốt năm mươi vạn quân Tần ở Ma-Tần lĩnh. Giai đoạn năm, bị lừa trong cuộc hôn nhân Mỵ-Châu, Trọng-Thủy mà mất nước.

Phàm xử dụng chiêu này thì khi phát lớp thứ nhất, bắt buộc phải phát tiếp các lớp sau. Kình lực lớp thứ nhì mạnh gấp đôi lớp thứ nhất. Lớp thứ ba mạnh gấp đôi lớp thứ nhì. Lớp thứ tư mạnh gấp đôi lớp thứ ba. Lớp thứ năm mạnh gấp đôi lớp thứ tư.

Bị bất ngờ, thấy chiêu chưởng hung dữ, Anh-Hào quát lên một tiếng, y tung người lên cao, rồi dáng xuống một chưởng. Long-Xưởng chuyển thân một cái, phát lớp thứ nhì. Hai chưởng gặp nhau, xùy một tiếng. Anh-Hào bay tung ra xa đến hơn hai trượng. Long-Xưởng phát lớp thứ ba, lớp này vương vận dương kình, mạnh gấp hai lớp thứ nhì. Chưởng phong phát ra ào ào. Anh-Hào hét lên be be, y biết rằng nếu mình đỡ chiêu này thì sẽ nát thây ra mà chết. Y nhảy lùi liền ba bước, rồi đưa cả hai chưởng lên đỡ. Binh, người y bật lại sau, trúng bức tường đến ầm một tiếng. Miệng y mửa ra một búng máu. Long-Xưởng không dừng lại được, vương phát lớp thứ tư. Mọi người thét lên, vì nếu lớp đó trúng người Anh-Hào, thì người y sẽ vỡ làm bẩy tám mảnh. Anh-Hào lăn mình xuống đất, rồi núp vào phía sau cái chậu cảnh lớn. Choang, cái chậu vỡ tan tành. Long-Xưởng phát lớp thứ năm. Có tiếng thái-hậu ở đâu đó thét lên:

– Không đươc giết con ta.

Nhưng không kịp nữa, Long-Xưởng đã nhả kình lực. Người bịt mặt chĩa ngón tay chỏ, cách không điểm vào huyệt đại-trùy Long-Xưởng. Bị đánh trộm phía sau, Long-Xưởng tê liệt toàn thân, ngã lăn xuống thềm điện.

Người bịt mặt lại lách thân một cái, tay như dài thêm ra. Y đã đoạt kiếm của hoàng-hậu, rồi điểm huyệt bà. Hậu ngã ngồi ngay cạnh nhà vua.

Tuy bị điểm huyệt, Long-Xưởng vẫn tỉnh táo, vương hô lớn:

– Võ sĩ đâu! Bắt gian tế.

Đám võ sĩ Sài-sơn gác ngoài điện chưa kịp cứu giá thì tên bịt mặt hô lớn:

– Thỉnh thánh giá thái-hậu.

Thái-hậu từ ngoài bước vào, hai bên có Cảm-Linh, Cảm-Chi hộ giá. Mặt thái-hậu lạnh như tiền. Bà vừa ngồi lên ngai của nhà vua, thì võ sĩ thuộc phái Sài-sơn từ ngoài tràn vào. Họ cùng rút kiếm tấn công Nùng-sơn tam anh, Tô-lịch nhị tiên.

Vương Nhất dí kiếm vào cổ nhà vua. Y cười gằn:

– Xin bệ hạ tuyên chỉ cho đám võ sĩ lui ra ngoài, bằng không thần xin dâng một nhát kiếm, thì cái gì sẽ xẩy ra, bệ hạ tự hiểu lấy.

Nhà vua cuống lên:

– Các vị võ sĩ mau lui ra.

Các võ sĩ đều dừng lại.

Thái-hậu chỉ vào mặt Long-Xưởng:

– Thì ra mi! Từ mấy năm nay, ta chỉ đề phòng con mẹ mi, mà tuyệt không nghi ngờ mi, thành ra nông nỗi này. Trước đây hai năm, ta thấy mi xử dụng mấy chiêu võ mèo cào của bọn Mê-linh, ta những tưởng mi học ở con mẹ mi. Bây giờ, với bản lĩnh mi vừa xử dụng, thì ta mới biết rằng không phải. Ta hỏi mi: Đứa nào đã dạy võ công Mê-linh cho mi? Những chiêu này, cái mụ ni sư già Nghi-Ninh cũng không biết, thì thị không thể dạy cho mi được.

Long-Xưởng không trả lời.

Thái-hậu nghiến răng:

– Tan nát hết rồi. Đã tan vỡ, thì ta cho tan vỡ luôn. Thằng cha mi, con mẹ mi, cả mi nữa đều phải chết. Cơ đồ họ Lý cũng tan nát luôn.

Tuy bị kiềm chế, nhưng Long-Xưởng vẫn quật cường, vương hướng vào thái-hậu:

– Tổ mẫu! Khi đức Thần-tông còn tại thế, người đãi tổ mẫu không bạc. Thế mà, khi người băng rồi, thì tổ mẫu lại mưu đem ngôi vua truyền cho ác nhân Anh-Vũ. Anh-Vũ chết, tổ mẫu lại muốn đem ngôi vua truyền cho gã Lưu Kỳ. Phụ hoàng làm vua, hay người nào trong hoàng tộc làm vua, thì sự nghiệp của năm vị tiên đế, của cơ nghiệp Tiêu-sơn vẫn còn. Dù cơ nghiệp Tiêu-sơn có mất chăng nữa, bất cứ giòng họ nào thuộc Đại-Việt lên làm vua, thì giang sơn của vua Hùng, vua Trưng vẫn còn. Tổ mẫu không thể, không nên trao cho Tống.

Bốp. Thái-hậu tát Long-Xưởng một cái, bàn tay bà cảm thấy đau nhức vô cùng. Tay trái xoa tay phải, bà văng tục:

– Câm cái mõm chó lại. Việc làm của mi, thì mi cho rằng mi có lý. Việc làm của ta, ta cũng cho rằng ta có lý. Mi không đủ tư cách bàn luận.

Bà chị vào bụng:

– Thằng cha mày còn chui ở trong cái lỗ này ra, thì mi không đủ tư cách lời đối lời với ta.

Bà nhìn Thái-sư Lưu Khánh-Đàm:

– Còn thằng già này! Suốt hai năm nay, mi xui dục thằng nhóc con bí mật hành sự để chống ta. Hôm nay mi phải chết. Những chuẩn bị của mi thực hoàn hảo. Chắc mi tự hỏi: Ngoài thành có võ sĩ canh gác, điện này có võ sĩ canh gác, thế mà sao chúng ta lọt được vào đây phải không?

_?!?!?!

– Được ta nói cho mi biết, để trước khi chết, mi khỏi ân hận. Mi tưởng, mi là Thái-sư thì cái gì mi cũng biết. Mi nào ngờ đến chuyện: Có một con đường hầm từ ngoài cửa Đan-phượng đi vào điện Càn-nguyên. Từ điện Càn-nguyên có đường hầm thông sang điện bày. Lại cũng có con đường từ điện này thông ra hồ Tây. Các đường hầm được Khai-Quốc vương kiến tạo, sau thời chư vương nổi loạn. Mục đích là dùng đường này đề phòng khi bị phản, thì hoàng-đế dùng để thoát thân. Nên chỉ mình hoàng-đế được biết mà thôi.

Bà chỉ tay vào mặt nhà vua:

– Đức Nhân-tông băng, mật truyền cho đức Thần-tông. Đức Thần-tông băng, thì thằng ngốc này còn bế ngửa, nên ngài di chúc cho ta. Đáng lẽ khi nó lớn thì ta truyền cho nó. Nhưng nó đần quá, ta không truyền.

Bà thở dài:

– Hôm qua, được tin bọn Đông-a làm phản, ta tức tốc triệu tập Phụng-quốc vệ dẹp loạn. Sáng nay, ta cho năm đội Phụng-quốc vệ đi bằng đường thủy về Thiên-trường an dinh hạ trại. Còn bọn ta. Chúng ta bí mật đi bằng đường bộ. Khi chúng ta đến đến Thiên-trường mới biết tên nhà quê Trần Tự-Kinh đã đục thuyền bắt hết Phụng-quốc vệ. Ta linh cảm thấy mình đã trúng kế diệu hổ ly sơn, nên vội vã trở về. Ta tới nơi, thì các cổng thành Thăng-long đóng cửa. Ta bèn dùng đường hầm tái chiếm điện Càn-nguyên, rồi từ điện Càn-nguyên ta đến.

Nghe thái-hậu nói, Lưu Khánh-Đàm phát run, bởi võ sĩ canh phòng điện Càn-nguyên do Từ Thụy-Hương chỉ huy có tới trên ba trăm. Nếu bọn tùy tùng của thái-hậu muốn thắng chúng, ắt phải có cuộc long tranh, hổ đấu … thế sao bà lại đến đây bí mật đến nỗi ông bị bất ngờ?

Cảm-Linh đoán ra cái thắc mắc của Lưu thái-sư, thị cười nhạt:

– Thằng già chưa chết kia! Mi tưởng bọn võ sĩ canh gác điện Càn-nguyên, Uy-viễn trung thành với mi ư? Mi lầm rồi! Bọn chúng thấy thái-hậu là quỳ gối tỏ lòng trung thành, và báo mật khẩu cho chúng ta. Cho nên chúng ta vào đây dễ dàng.

Thái-hậu cười nhạt hỏi Khánh-Đàm:

– Mi còn muốn nói gì nữa không?

Lưu Khánh-Đàm lắc đầu:

– Thần là tôi triều Lý, thờ trải ba đời vua. Nay vì sự nghiệp của năm vị tiên đế mà chết, thì cũng thỏa lòng. Thái-hậu cứ giết thần đi.

– Được ta sẽ cho mi chết.

Bà xỉa xói vào mặt nhà vua, tay chỉ vào hoàng-hậu, miệng cong cớn, chu tréo:

– Ta đẻ ra mi, ta biết mi là một thằng khờ, một thằng đần. Chả đần, mà hai phen mi nghe lời con diều tha, quả mổ này phản ta. Thì ra mi chui đầu vào cái trong váy của nó, rồi nó bảo gì mi cũng nghe.

Có lẽ cổ kim, Đông, Tây, Cảm-Thánh thái hậu là người văng tục bằng những lời đầu đường xó chợ với một hoàng-đế như vậy trước mặt quần thần.

– Thôi được, dù gì thì mi cũng do ta đẻ ra. Ta cho mi chọn hai con đường.

– Thần nhi chờ chỉ dụ của mẫu hậu.

– Đạo lý trong thiên hạ, không bao giờ được giết vua. Vì vậy bây giờ ta không thể giết mi ngay. Muốn giết mi, ta phế mi xuống làm Si-vương, Ngu-vương hay Đần-vương…rồi lập đứa con út mi lên thay. Cổ kim, chưa từng một vua bị phế mà được sống. Vì vậy sau đó ta sẽ xử giảo một vương si ngốc, với con vợ mi, cùng thằng Long-Xưởng này.

Nhà vua run run:

– Xin mẫu hậu nới tay.

– Thôi được! Vậy mi hãy làm ngay ba việc. Một là mi tự nhận bị lú lẫn, điên khùng, nghe lời bọn nhà quê ở phái Đông-a làm việc bất hiếu, bất đạo, nên không đương nổi việc lớn. Vì không đương nổi việc lớn, mi học theo vua Nghiêu nhường ngôi cho vua Thuấn. Vua Thuấn nhường ngôi cho vua Vũ. Mi nhường ngôi cho một đấng nhân từ nhất lịch sử cổ kim, anh tuấn nhất thiên hạ, lại có tài nghiêng trời lệch đất là quan Tiết-độ sứ Thiên-triều… Lưu Kỳ. Hai là, sau đó mi cạo đầu vào chùa Chân-giáo làm sư. Ba là, mi ban chỉ tru di tam tộc nhà con vợ mi, xử trảm con vợ mi với thằng Long-Xưởng. Giết cả nhà tên Lưu Khánh-Đàm.

Nhà vua năn nỉ:

– Thần nhi chịu thoái vị nhường ngôi. Xin mẫu hậu cho thần nhi đem tất cả của cải, vợ con theo. Thần nhi chỉ xin làm một anh nhà giầu, về Cổ-pháp trông coi lăng tẩm tiên đế.

– Được! Ta đồng ý. Nhưng mi phải giết con vợ mi, với thằng nhóc Long-Xưởng. Việc này, mi không cần ban chỉ. Mi chỉ cần gật đầu một cái, thì những người của ta sẽ giết chúng ngay tại đây.

Ghi chú của thuật giả.

Chân-giáo là ngôi chùa nằm trong Hoàng-thành Thăng-long, nay thuộc quận Ba-đình, Hà-nội. Chùa được xây dựng vào niên hiệu Thuận-Thiên thứ mười lăm (1024) đời vua Lý Thái-tổ.

Đúng là tiền oan, nghiệp chướng. Cảm-Thánh thái hậu ép vua Lý Anh-Tông đi tu ở chùa Chân-giáo , nhường ngôi vua cho tình quân Lưu Kỳ. Việc không thành bây giờ, nhưng sau này Trần Thủ-Độ thành công. Có lẽ việïc này gợi ý cho con của Trần Thủ-Huy là Trần Thủ-Độ ép vua Lý Huệ-Tông đi tu ở chùa Chân-giáo, nhường ngôi cho công chúa Chiêu-Thánh. Công chúa Chiêu-Thánh lên làm vua, tức Lý Chiêu-Hoàng. Chiêu-Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Tháng tám, niên hiệu Kiến-Trung thứ nhì (1226). Trần Thủ-Độ buộc vua Lý Huệ-Tông thắt cổ tự tử ở vườn sau chùa.

Đó là việc sau, sẽ thuật ở bộ này, quyển 5.

Nhà vua liếc nhìn hoàng-hậu, Long-Xưởng, rồi lắp bắp, nói không thành tiếng:

– Sự đã như thế này, thì trẫm không còn con đường nào khác. Khanh với Xưởng nhi đừng oán trẫm nhé. Sau khi khanh chết, trẫm sẽ làm chay thực lớn cho khanh mau siêu thoát.

Thái-hậu cười lớn hướng Tô-lịch nhị tiên:

– Cảm-Linh giết con vợ nó. Cảm-Chi giết thằng lỏi láu cá. Thi hành.

Hai người dạ một tiếng rồi rút kiếm khỏi vỏ. Nhà vua, các quan cùng nhắm mắt lại không dám nhìn thảm cảnh mẹ chồng giết nàng dâu, bà giết cháu.

Thình lình có tiếng nói rất êm đềm:

– Khoan!

Rồi bảy bóng người xẹt đến, tiếp theo hai tiếng cách cách, hai tiếng bình, bình. Hai thanh kiếm của Cảm-Linh, Cảm-Chi vọt lên cắm vào cây xà điện. Cảm-Linh, Cảm-Chi bay tung đến trước mặt nhà vua, nằm đứ đừ như hai cây chuối, không biết sống chết ra sao. Đỗ Anh-Hào thì bị bay tung ra cửa điện. Đám võ sĩ Sài-sơn điểm huyệt y, rồi để trước mặt Long-Xưởng.

Trong bẩy người đó, có một thiếu niên tiến đến giải huyệt cho hoàng-hậu, Long-Xưởng. Hoàng-hậu, Long-Xưởng đứng dậy, nhặt kiếm đứng cạnh nhà vua.

Nói thì chậm, chứ bóng người xẹt đến, kiếm bay tung, Tô-lịch nhị tiên với Anh-Hào bị đánh văng đi, chỉ loáng một cái.

Bẩy người xuất hiện là đại-sư Pháp-Dung, sư thái Nghi-Ninh; đại hiệp Lê Thúc-Cẩn, Tôn Đức-Hòa, Đoan-Nghi, Thủ-Lý, Thủ-Huy.

Đoan-Nghi cảm động, nắm lấy tay Thủ-Huy:

– Anh Thủ-Huy! Hay quá. Chúng ta đến cứu mẫu hậu, anh Long-Xưởng vừa đúng lúc.

Người bịt mặt cười nhạt:

– Thì ra chưởng môn bốn đại môn phái của Giao-chỉ đấy. Các vị tự hào là danh môn chính phái, mà ra tay ám toán ba đệ tử của tại hạ. Được! Bốn đại môn phái cùng bọn Đông-a đều tham dự vào việc phản nghịch hôm nay, thì trước sau gì tại hạ cũng phải đem quân đến tiêu diệt. Không ngờ ma đưa lối, quỷ đưa đường, bốn vị tự đến đây nộp mạng.

Nói dứt, y vung tay phóng ba chỉ, hướng Tô-lịch nhị tiên, Đỗ Anh-Hào. Được giải huyệt, ba người vọt lên cao, rồi đứng sau y.

Tôn Đức-Hòa hỏi:

– Phải chăng các hạ vừa xử dụng Lĩnh-Nam chỉ?

– Đúng thế! Lĩnh-Nam chỉ là một trong năm tuyệt kỹ trấn môn của phái Tản-viên. Vừa rồi tại hạ đã múa búa trước cửa Lỗ Ban, đọc Hiếu-kinh trước nhà Khổng-tử, rất mong Tôn đại hiệp chỉ cho những chỗ sơ hở.

Nghe người bịt mặt hỏi, Tôn Đức-Hòa rùng mình:

– Ngũ đại tuyệt kỹ của bản phái chỉ chưởng môn mới được học đủ. Muốn học tuyệt kỹ thì công lực phải cao thâm tới mức thượng thừa. Năm năm trước, không may sư phụ của tại hạ quy tiên quá nhanh, mà các đệ tử thì tuổi còn nhỏ, chưa ai đủ công lực luyện. Vì vậy tại hạ rất xấu hổ, không luyện được tuyệt kỹ nào cả.

Thình lình người bịt mặt xê dịch một cái, nhanh như điện chớp, y đã tới cạnh Long-Xưởng. Tay y như dài ra, y chụp vương. Rõ ràng người bịt mặt đang đối thoại với Tôn Đức-Hòa mà y ra tay như sét nổ, vạn vạn lần Long-Xưởng không ngờ tới. Vương không kịp vận công, cũng chẳng kịp tránh né, đành nhắm mắt chịu chết. Pháp-Dung, Thúc-Cẩn cùng quát lên một tiếng, rồi cùng xuất chưởng đánh vào hai bên hông người bịt mặt, để y phải thu chiêu về tự cứu mình. Chưởng phong của hai đệ nhất cao nhân mạnh như bài sơn đảo hải tấn công vào hai bên, người bịt mặt vội bỏ Long-Xưởng, hai tay cùng phát chiêu đỡ. Aàm, ầm, cả ba cùng bật lui lại phia sau.

Pháp-Dung, Thúc-Cẩn cùng cảm thấy khí huyết đảo lộn cực kỳ khó chịu. Cả hai biết rằng công lực đối thủ cao hơn mình nhiều. Bàn tay hai người lạnh buốt. Cái lạnh theo kinh mạch chạy lên cùi chỏ… Quá kinh hãi, cả hai phải nhảy lùi lại phía sau ngồi vận công.

Người bịt mặt như không coi Pháp-Dung, Thúc-Cẩn ra gì. Y nói:

– Ta mới vận có năm thành công lực.

Y quay lại tiếp tục nói truyện với Tôn Đức-Hòa:

– Đại hiệp thân làm chưởng môn một phái lớn nhất trời Nam, mà không dám nói sự thực. Tại hạ xin hỏi: Dù sư phụ của đại hiệp có chết bất đắc kỳ tử, thì cũng còn bí lục, đại hiệp có thể tự luyện chứ? Vậy đại hiệp đã luyện được tuyệt kỹ nào?

_!!!

– Tạ hạ biết đại hiệp cố che dấu một sự thực, không dám nói ra. Được! Để tại hạ nói ra cho thiên hạ biết: Khi sư phụ đại hiệp chết, thì bí lục bị người ta đoạt mất thành ra phái Tản-viên nổi tiếng nhất trời Nam, nay trở thành hữu danh vô thực. Có đúng thế không?

– Quả đúng như tiền bối nói! Tại hạ xin hỏi tiền bối, tiền bối có biết hung thủ sát hại tiên sư là ai không?

– Tại hạ không biết. Dù có biết tại hạ cũng không nói cho đại hiệp nghe. Xin hỏi đại hiệp câu này: Luật lệ phái Tản-viên đặt ra từ Sơn-Tinh là, bất biết người nào trong thiên hạ, nếu biết xử dụng tuyệt kỹ trấn môn, mà thắng chưởng môn bằng tuyệt kỹ, thì sẽ được lên thay thế, có đúng không?

Tôn Đức-Hòa run run:

– Quả… quả đúng vậy.

Người bịt mặt chỉ Vương Nhất:

– Người là đại đệ tử của ta. Người hãy dùng năm đại tuyệt kỹ trấn môn của phái Tản-viên thắng Tôn đại hiệp rồi lên làm chưởng môn. Người hãy nói cho mọi người biết, năm đại tuyệt kỹ đó là những môn võ công nào?

Vương Nhất cung cung kính kính dạ một tiếng, rồi bước ra:

– Tôn đại hiệp. Xưa kia vua Hùng thứ 88, sai lập võ đài tuyển phò mã. Sơn-Tinh nhờ pho Phục-ngưu thần chưởng 18 chiêu, thắng anh hùng thiên hạ mà được kết hôn với công chúa. Phục ngưu thần chưởng trở thành đệ nhất tuyệt kỹ trấn môn. Có đúng thế không?

Ghi chú của thuật giả:

Huyền sử nói, triều đại Hồng-bàng trải 88 đời vua. Nhưng chỉ ghi lại được đế hiệu của 18 đời. Xin đọc Anh-hùng Lĩnh-Nam quyển 4 của Yên-tử cư-sĩ do Nam-á Paris xuất bản.

– Đúng vậy!

– Về sau, Vạn-tín hầu Lý Thân giúp vua An-Dương đánh vua Hùng. Hầu dùng Long-biên kiếm pháp đấu với Sơn-Tinh ba ngày ba đêm mới thắng được. Tuy thắng đối thủ, nhưng người cũng phải công nhận rằng Phục-ngưu thần chưởng là pho võ công tuyệt hảo. Sở dĩ hầu thắng đối thủ vì Long-biên kiếm pháp dùng nội công âm nhu. Nhu chế cương là lẽ đương nhiên. Hầu đề nghị hai bên trao đổi võ công. Hai đại tôn sư hợp nhau, chế ra Phục-ngưu thần chưởng Âm-nhu . Thành ra từ đấy phái Tản-viên có hai tuyệt kỹ trấn môn.

Vương Nhất hỏi Tôn Đức-Hòa:

– Nay đại hiệp làm chưởng môn, đại hiệp có biết xử dụng hai tuyệt kỹ trấn môn này không? Tại hạ dám quyết người không biết. Để tại hạ biểu diễn cho người xem.

Nói rồi Vương Nhất thứ tự biểu diễn đủ 18 chiêu Phục-ngưu thần chưởng, cứ một chiêu âm một chiêu dương, từ chiêu thứ nhất là Thanh-ngưu nhập điền đến chiêu thứ mười tám là Ngưu ngọa ư sơn, miệng giảng về biến hóa. Rồi hỏi:

– Tôn đại hiệp! Tại hạ diễn có sai chỗ nào không?

– Không!

– Đến thời Lĩnh-Nam, Khất đại phu Trần Đại-Sinh cùng Bắc-bình vương Đào Kỳ, áp dụng cách vận công bằng kinh mạch vào khí công, rồi chế ra Lĩnh-Nam chỉ. Lĩnh-Nam chỉ trở thành đệ tam tuyệt kỹ trấn môn của phái Tản-viên. Có đúng không?

Tôn Đức-Hòa run run:

– Đúng!

– Nay đại hiệp làm chưởng môn, thì chắc đại hiệp thành thạo Lĩnh-Nam chỉ pháp lắm thì phải. Xin đại hiệp xử dụng cho tại hạ mở rộng tầm con mắt. Đại hiệp nghĩ sao?

– !!!

– Đại hiệp im lặng, tức là không biết xử dụng. Thôi được để tại hạ biểu diễn cho đại hiệp xem.

Vương Nhất chĩa ngón tay chỏ hướng cái bình hoa để trên án thư, phóng một chỉ. Choang! Cái bình bằng bạc bay tung đi.

Vương cười:

– Khất đại-phu thu Yên-lãng công chúa Trần Năng làm đệ tử. Trong trận đánh đồi Vương-sơn, công chúa được Tăng-giả Nan-đà truyền Vô-ngã tướng Thiền-công cho. Vô-ngã tướng Thiền-công là nội công vô thượng. Bởi nó vừa có âm, lại vừa có dương. Khi giao chiến với đối thủ, đối thủ dùng nội công tấn công mình, thì bản thân mình sẽ hấp thụ nội công đó vào cơ thể mình, do vậy công lực mình tăng. Công chúa áp dụng vào việc xử dụng Phục-ngưu thần chưởng, khiến thần chưởng thành một chưởng mới. Từ đấy về sau, Vô-ngã tướng Thiền-công trở thành đệ tứ tuyệt kỹ của phái Tản-viên. Nhưng tại hạ dám quyết tiền bối chưa luyện được thứ Thiền-công thượng thừa này.

Y lại nhìn Long-Xưởng, rồi tiếp:

– Gần đây, Bố-đại hòa thượng dùng Vô-ngã tướng Thiền-công để hợp cả Phục-ngưu thần chưởng Aâm lẫn Nhu làm một, rồi chế ra Mục-ngưu Thiền-chưởng, truyền cho phò mã Thân Thiệu-Thái. Khi ngài dậy phò mã, công chúa Bảo-Hòa cũng hiện diện. Tuy công chúa luyện cả nội công Aâm-nhu, Dương-cương, nhưng công chúa không trấn nhiếp được thần chí, nên khi tay trái phát Phục-ngưu thần chưởng dương, tay phải phát Phục-ngưu thần chưởng âm mà không thành. Hóa cho nên chiêu trái bẩy phần dương, ba thần âm. Trong khi tay phải ba phần dương, bẩy phần âm. Chưởng này trở thành chưởng pháp có sát thủ bậc nhất thế gian. Bởi khi đánh trúng ai, thì âm dương hỗ tương công phá, khiến cho thịt nát, xương tan, hồn phách bay phơi phới. Đối thủ không chết ngay thì cũng dần dần hóa ra tàn tật. Trong đại hội Lộc-hà, công chúa xử dụng, hạ một lúc bốn trưởng lão Hồng-thiết giáo. Võ lâm dù chính, dù tà đều kinh hồn động phách đặt tên là Tán-cốt Lạc-phách Tiêu-hồn chưởng thường gọi tắt là Tán-lạc-hồn chưởng. Đây là đệ ngũ tuyệt kỹ trấn môn của phái Tản-viên. Tiền bối là chưởng môn phái Tản-viên, xin tiền bối dùng Ngũ-đại tuyệt kỹ tứ giáo cho mấy chiêu. Nào, xin mời!

Nghe Vương Nhất nói tất cả những uẩn khúc của Ngũ-đại tuyệt kỹ phái Tản-viên, Tôn Đức-Hòa kinh hãi đến đờ người ra.

Người bịt mặt nói:

– Này Tôn đại hiệp. Nếu như hôm nay, Tôn đại hiệp không dùng Ngũ-đại tuyệt kỹ trấn môn khắc phục được tên đệ tử của tại hạ cũng không sao. Sau này tại hạ sẽ sai y lên Tản-lĩnh lễ thánh Tản, rồi thân truyền năm tuyệt kỹ lại cho Tôn đại hiệp.

Tôn Đức-Hòa biết người bịt mặt ra điều kiện: Nếu như ông cũng như phái Tản-viên không can thiệp vào việc giúp Thái-tử Long-Xưởng thì sau này Vương Nhất sẽ truyền Ngũ-đại tuyệt kỹ trở lại cho ông. Còn như ông không tuân, thì Vương Nhất sẽ dùng võ công Tản-viên thắng ông, rồi đoạt chức chưởng môn ngay tại đây.

Nguyên từ khi sư phụ của Tôn Đức-Hòa là Đặng Phi-Sơn bị mất tích, tuyệt kỹ trấn môn bị thất truyền, đệ tử phái Tản-viên dần dần phiêu bạt đi các nơi. Năm trước, các đệ tử đại hội trên Tản-lĩnh cùng thề rằng: Nếu như ai tìm lại được Ngũ-đại tuyệt kỹ, thì sẽ được tôn làm chưởng môn. Họ tạm bầu Tôn Đức-Hòa lên nắm chức chưởng môn để môn phái không bị tan vỡ. Bây giờ nghe giọng điệu Vương Nhất, dường như y có bộ phổ chép Ngũ-đại tuyệt kỹ, mà y còn luyện thành nữa. Nếu như Tôn đấu với y, thì cái bại cầm chắc trong tay. Nhưng y không dồn Tôn vào đường cùng, mà y chỉ yêu cầu Tôn đứng ngoài cuộc tranh chấp giữa Cảm-Thánh thái hậu với nhà vua mà thôi. Y còn hứa sau này sẽ lên núi Tản truyền Ngũ-đại tuyệt kỹ cho nữa. Nghe Vương hứa, Tôn mừng không bút nào tả xiết. Tôn cung tay:

– Tại hạ cung kính nghe lời Vương đại hiệp.

Người bịt mặt cười:

– Kẻ thức thời mới là người tuấn kiệt. Tôn đại hiệp, người bước sang đây với chúng ta đi.

Tôn Đức-Hòa không do dự, ông bước sang đứng cạnh Vương Nhất. Phái Tản-viên đang là trợ thủ của Long-Xưởng, bây giờ biến thành lực lượng đối nghịch.

Pháp-Dung, Thúc-Cẩn đã vận công trục cái lạnh từ chưởng của người bịt mặt truyền vào tay. Cả hai đứng dậy, mà trong lòng còn kinh hãi. Cả hai nghĩ thầm:

– Không biết tên này là ai, mà công lực cao đến như vậy? Trong chưởng của y bao hàm một nội công chính đại quang minh của phái Đông-a pha lẫn Huyền-âm hàn băng của phái Trường-bạch bên Trung-nguyên. Nếu như vừa rồi, y vận đủ mười thành công lực, thì mình đã chết rồi!

Long-Xưởng thấy hai đại tôn sư mới lĩnh một chưởng nhẹ nhàng của người bịt mặt, mà phải ngồi vận công hơn hai khắc mới hóa giải xong. Bây giờ Tôn Đức-Hòa lại theo y, thì kinh hãi:

– Hỡi ơi! Khi khởi sự, ta tin tưởng vào Tôn Đức-Hòa cũng như phái Tản-viên làm lực lượng chính trợ thủ. Bây giờ chừng thức này thì nguy quá rồi. Họ quay lưng lại phía kẻ thù, đối diện với ta!

Người bịt mặt chỉ Cảm-Linh, nói với sư thái Nghi-Ninh:

– Sư thái. Tại hạ xin giới thiệu với sư thái, đây là vợ của Vương Nhất, tên Cảm-Linh. Cảm-Linh có học qua võ công Mê-linh. Cảm-Linh muốn thưa truyện với sư thái.

Cảm-Linh chắp tay hướng sư thái Nghi-Ninh vái ba vái.

– Thưa sư thái! Dường như môn quy của quý phái định rằng, một người biết xử dụng võ công Mê-linh, nguyện cả đời theo chí hướng của vua Trưng, không phải là phường đầu trộm đuôi cướp, trốn chúa, lộn chồng… thì đương nhiên là đệ tử của Mê-linh. Không biết có phải vậy chăng?

– Quả đúng như vương phu nhân nói.

– Tiểu bối được sư phụ dạy ít bản sự của quý phái. Tiểu bối xin trình bầy, để xin sư thái chỉnh đốn cho những chỗ khiếm khuyết.

Cảm-Linh khoan thai nói:

– Sau khi vua Trưng tuẫn quốc, thì các phái Cửu-chân, Long-biên, Hoa-lư hợp làm một, gọi là phái Mê-linh. Vào thời vua Thái-tổâ, khi công chúa Bình-Dương lên làm chưởng môn, thì phái Mê-linh cực thịnh. Ngoài tuyệt học ra, còn có ba pho chưởng tinh diệu, khắc chế võ công Trung-nguyên, đó là Cửu-chân chưởng, Thiết-kình phi chưởng, Loa-thành chưởng. Vãn bối xin trình bầy Cửu-chân chưởng trước.

Cảm-Linh bái tổ, rồi diễn từng chiêu, miệng giảng giải chi tiết biến hóa. Nghi-Ninh nhìn Cảm-Linh trình diễn, bất giác bà rùng mình, vì không những thị trình bầy đầy đủ những chiêu bà biết, mà còn diễn cả những chiêu bà không biết nữa. Sau khi diễn xong ba pho Cửu-chân chưởng, Cảm-Linh ngừng lại hỏi:

– Thưa sư thái. Phái Mê-linh là hậu duệ của vua Trưng. Tại hạ nghe nói, một chưởng môn thì bắt buộc phải thông ba tuyệt kỹ trấn môn. Một là Long-biên kiếm pháp. Hai là nội công Aâm-nhu. Hai tuyệt kỹ này do tổ sư là Vạn-tín hầu Lý Thân sáng chế. Đến đời chưởng môn gần đây, công chúa Bình-Dương, học được Vô-ngã tướng Thiền-công, rồi biến đổi đi thành một nội công mới, gọi là Không-minh tâm pháp. Từ đấy phái Long-biên có ba tuyệt kỹ trấn môn. Không biết, trong ba tuyệt kỹ đó, sư thái thông được mấy tuyệt kỹ?

– A-di-đà Phật. Vương phu nhân, võ công mà phu nhân xử dụng, quả thực là võ công Mê-linh chính tông. Bần ni có một thắc mắc là phu nhân học võ công ấy ở đâu? Phu nhân có thể cho bần ni biết chăng?

Cảm-Linh chỉ vào người bịt mặt:

– Bạch sư thái, tiểu bối học từ sư phụ.

Người bịt mặt nói với vẻ tự hào:

– Sư thái. Dường như từ khi sư thái Nghi-Hòa viên tịch đến giờ, thì võ công trấn môn của quý phái bị thất truyền. Có đúng thế không? Nếu sư thái muốn phục hồi lại tuyệt kỹ của tiền nhân, thì cũng dễ thôi. Chỉ cần sư thái đứng tọa thủ bàng quan trong vụ tranh chấp của nội cung Lý triều là đủ. Sư thái ơi, sư thái theo giúp thằng bé con Long-Xưởng đã chẳng ích gì, mà còn nguy hại nữa. Sao bằng sư thái theo gương Tôn đại hiệp, ôm gối ngồi cao, vừa được hưởng thanh nhàn, vừa có lợi cho môn phái. Sư thái quyết định đi thôi. Sư thái là chưởng môn, mà không luyện được tuyệt kỹ của tiền nhân, thì có xứng đáng không?

Trong khi người bịt mặt, Vương Nhất, Cảm-Linh đối thoại với Tôn Đức-Hòa, Nghi-Ninh, thì Long-Xưởng hỏi sẽ Thủ-Huy:

– Không biết cái tên bịt mặt kia là ai mà thông thái đến như vậy? Không lẽ y có thể luyện thành tất cả các tuyệt kỹ của Đại-Việt ta?

– Đệ không rõ, xin đại ca hỏi huynh trưởng của đệ.

Long-Xưởng lại hỏi Thủ-Lý. Thủ-Lý dùng lăng-không truyền ngữ giảng giải:

– Điện hạ lầm rồi. Bản lĩnh của y cao thâm thì đúng. Chứ còn thông thái thì không. Này nhé, y xử dụng Lĩnh-Nam chỉ bằng nội lực Đông-a chứ không phải nội lực Tản-viên? Tôn đại hiệp quá súc động, nên không nhận ra. Đệ giám chắc y chỉ luyện thành có Lĩnh-Nam chỉ mà thôi. Y không thể nào luyện thành võ công Tản-viên với Mê-linh một lúc. Bởi vì hai hệ thống đó trái ngược nhau. Đệ nghi y là thủ phạm giết sư thái Nghi-Hòa, đại hiệp Đặng Phi-Sơn, hai năm trước rồi đoạt các cuốn phổ chép tuyệt kỹ. Sau đó y truyền cho Vương Nhất, Cảm-Linh. Hỏi rằng với hai năm, thì vợ chồng Vương Nhất chỉ có đủ khả năng học thuộc các chiêu thức ngoại công, rồi múa như vũ công, chứ chưa thể luyện nội công đến trình độ xử dụng được. Khi thấy gã bịt măt, rồi Vương Nhất xử dụng được Lĩnh-Nam chỉ, vợ chồng Vương Nhất biểu diễn các tuyệt kỹ, thì Tôn Đức-Hòa, cũng như Nghi-Ninh sư thái tưởng đâu chúng luyện thành cả, rồi sợ bóng sợ gió chúng.

– Vậy ta phải làm sao?

– Điện hạ đã luyện tới năm năm nội công Âm-nhu với Không-minh tâm pháp rồi phải không? Hai năm gần đây điện hạ cũng luyện xong Mê-linh kiếm pháp rồi phải không? Vậy, lát nữa điện hạ với Thủ-Huy công khai thách hai vợ chồng Vương Nhất đấu, sau đó hạ chúng. Nhưng phải cẩn thận, bằng không sẽ bị trúng Huyền-âm chưởng thì nguy.

– Đệ cũng sợ có bấy nhiêu mà thôi.

– Điện hạ ơi, điện hạ quên rồi! Điện hạ có nhớ hôm đại đến Thiên-trường, phụ thân đệ đã truyền phương pháp phản Chu-sa chưởng do tổ của đệ là Tự-An chế ra. Nay điện hạ cũng có thể dùng để trị Huyền-âm được.

Long-Xưởng hỏi:

– Không biết cái tên bịt mặt là ai? Ban nãy y dùng Lĩnh-Nam chỉ pháp đánh đệ mà thành công. Đệ muốn lột cái mặt nạ của y ra, thì phải làm thế nào?

– Căn bản võ công của y là võ công Đông-a và Huyền-âm nội lực. Vậy điện hạ dùng nội công Aâm-nhu xử dụng Mê-linh kiếm pháp thì trị được y. Điện hạ phải nhớ một điều, phàm xử dụng Mê-linh kiếm pháp, thì phải ra tay trước. Khi mình đắc thế, đối thủ mất căn bản thì không nhân nhượng, đánh liên tiếp hết chiêu nọ tới chiêu kia như mây trôi, như sóng vỗ mới được.

Mấy lời của Thủ-Lý làm cho Long-Xưởng như người mê chợt tỉnh ngủ. Vương chú ý quan sát đối thủ.

Nhắc lại, người bịt mặt vừa dụ, vừa dọa Nghi-Ninh sư thái. Nhưng bà không phải là người dễ khống chế. Bà cười nhạt:

– Bần ni học được nhiều hay ít bản sự của môn phái, không liên quan gì tới thí chủ. Bây giờ bần ni mới biết, chính thí chủ là thủ phạm sát hại Khánh-Hỷ đại sư, Nghi-Hòa sư thái và đại hiệp Đặng Phi-Sơn, rồi cướp bí lục võ công. A-di-đà Phật. Bần ni lớn mật dám xin thí cho biết cao danh quý tính đã?

– Điều này có bắt…

Tiếng buộc chưa ra khỏi miệng y, thì thấp thoáng một cái, chỉ thấy Long-Xưởng nhô lên, thụp xuống, tay vương rút kiếm, rồi tra kiếm vào vỏ đến cách một tiếng. Người bịt mặt nhảy lùi lại, nhưng không kịp nữa, khăn đã rơi xuống. Thấy bộ mặt y, mọi người đều kêu lên tiếng kinh hãi: Hắn chỉ có một mắt, mặt chỗ lồi, chỗ lõm, môi trên bị khuyết một miếng, môi dưới lại vều ra.

Người bịt mặt bị Long-Xưởng ra tay bất ngờ, vừa sợ, vừa tức. Y chỉ Long-Xưởng:

– Thằng oắt con. Ta…ta… sẽ lột da đầu mi.

Thủ-Lý bước đến trước quái nhân, tay chỉ vào mặt y:

– Thì ra người là Mao Khiêm.

Rồi chàng với mọi người:

– Thưa các vị, quái nhân này chính là Mao Khiêm. Y là khí đồ của phái Đông-a nhà tôi.

Chàng lại nói với quái nhân bằng giọng trịch thượng:

– Mao tiền bối! Xưa kia, cha, bác của tiền bối nức tiếng là Trường-bạch song hùng. Chỉ vì ham miếng đỉnh chung, mà theo bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết sang đánh Đại-Việt. Trong trận Yên-dũng, Song-hùng bị phò mã Thân Thiệu-Thái bắt sống. Đức tằng tổ khảo ( bốn đời trên= kị) của tiểu bối là Kinh-Nam vương, xin với Linh-Nhân hoàng thái hậu, rồi đem về cưu mang ở Thiên-trường. Người còn cưới vợ Việt cho Song-hùng nữa, nên mới có tiền bối. Đến đời cao tổ khảo, người thương tình tiền bối côi cút, dạy văn, luyện võ cho. Trong người tiền bối có hai giòng máu Việt-Hoa. Đáng lẽ tiền bối phải hành xử như Kinh-Nam vương với công chúa Huệ-Nhu, sao dung hòa giữa Hoa-Việt; thì tiền bối lại đi làm tế tác cho Tống, mưu biến Đại-Việt thành quận huyện của Trung-quốc. Đạo lý ở chỗ nào? Xin tiền bối dạy cho một lời!

– Thằng oắt con kia!

Mặt Mao Khiêm sát khí đằng đằng: Mấy chục năm qua, ta nằm gai nếm mật, đóng cửa luyện võ, lập chí quyết phù tá Tống thiên tử chiếm bằng được đất Giao-chỉ, bắt tất cả đàn ông đem thiến, để trả mối hận trải hai đời của họ Mao nhà ta!

_?!?!?

– Khi ta theo sứ Tống, đem hài cốt cha ta về Trung-nguyên, mẹ ta đã khuyên ta luôn luôn nhớ công ơn họ Trần, công ơn của người Việt. Nhưng khi luyện Huyền-âm công, ta tìm thấy trong di thư, phụ thân ta trăn trối phải giết tuyệt giòng giống Việt trả thù cho người. Vì bọn Việt giả nhân, giả nghĩa cưu mang người, chứ thực ra là cầm tù trọn đời. Bởi vậy, ta mới đem tất cả hình, thể, sông núi, tình hình võ phái của Giao-chỉ tâu lên Tống thiên tử. Ta lại bẻ kiếm, tuyệt tình với phái Đông-a. Khi ta theo sứ đoàn Tống sang Giao-chỉ lần đầu, thì gặp Côi-sơn song ưng.

Y nghiến răng kèn kẹt: Vì gặp Song-ưng, mà khuôn mặt ta mới thành thế này. Giam cha ta trọn đời là Trần Tự-Mai. Làm cho mặt ta ba phần giống người, bẩy phần giống quỷ, là Côi-sơn song ưng. Vì vậy ta nhất quyết, nhất quyết đem quân Tống sang giết tận số bọn Việt, để trả mối thù hai đời.

Mao Khiêm hỏi Thủ-Lý:

– Mi thuộc chi nào? Giòng nào của Trần Tự-Mai?

– Tiểu bối thuộc chi một, giòng chính. Phụ thân của tiểu bối là Tự-Hấp.

– À, thì ra thế. Mi có biết rằng ta ngang vai với ông nội mi không? Thế mà mi thấy ta lại không rập đầu hành lễ. Đồ mất dạy!

– Mao tiền bối. Người hãy nghe đây!

Thủ-Lý đáp bằng giọng kẻ cả như chủ nói với tôi tớ: Khi theo di hài của Trường-bạch song hùng về Trung-nguyên, tiền bối phát thệ rằng: Trọn đời không làm lợi cho Đại-Việt thì cũng không làm hại. Nếu sai lời, thì sẽ mù một mắt, mặt biến thành quỷ. Thế mà khi về Trung-quốc, tiền bối làm ngươc lại. Như vậy là tiền bối không còn tư cách của một đệ tử Đông-a, nên tiểu bối không coi người là thái sư thúc nữa. Dĩ nhiên khi thấy tiền bối, thì tiểu bối không phải hành lễ.

Thủ-Lý nói chậm lại, bằng giọng ngọt ngào:

– Tiền bối thề, rồi phản lại lời thề, nên Côi-sơn song ưng mới thực hiện lời thề của tiền bối khi xưa, mà biến bộ mặt mỹ nam tử của tiền bối, thành bộ mặt như thế này. Thề sao, hao vậy, sự đời như thế, đâu có gì là lạ?

Long-Xưởng xá Thủ-Lý:

– Cảm ơn đại ca đã đem chính đạo ra dạy dỗ một tên ma đầu.

– Này Mao Khiêm!

Long-Xưởng chỉ ra ngoài: Bất quá mi chỉ có năm tên đệ tử với mi là sáu. Trong khi ta có bốn đại tôn sư với hơn ba trăm võ sĩ. Mi chịu trói đi thôi, hay đợi ta phải ra tay?

Hết quyển I

—–> Quyển II: hồi mười một

Advertisements
This entry was posted in 09- ANH HÙNG ĐÔNG-A, DỰNG CỜ BÌNH MÔNG. Bookmark the permalink.