ANH-HÙNG BẮC-CƯƠNG (Q.III: Hồi 81-90)

QUYỂN III
– hồi 81 — 90 –

Hồi thứ tám mươi mốt

Viên Giác Đốn Giáo

Bọn Nhật-hồ nghe Triệu Thành nói, đều bật lên tiếng ồ. Đại-Bằng hỏi Thiếu-Mai:

– Phải chăng cô nương là con gái Hồng-Sơn đại phu?

– Quả đúng như thế.

Trung sứ giả Dương Đắc nói với Đại-Bằng:

– Bang chủ, chúng ta chẳng nên gây thù chuốc oán với võ lâm Đại-Việt. Hồng-Sơn đại phu ân đức trải khắp thiên hạ. Ông lại là một trong Đại-Việt ngũ long, võ công kinh thế hãi tục. Thuộc hạ nghe nói, trong đại hội Thăng-long mới đây, ông chỉ đánh có ba chưởng, khiến Nhật-Hồ lão nhân phải lùi bước.

Đại-Bằng hừ một tiếng:

– Dương đệ nói lạ. Hồng-Sơn đại phu không thể hơn võ lâm Đại-Việt. Võ lâm Đại-Việt không hơn hoàng đế Đại-Việt. Hoàng-đế Đại-Việt, lại không thể so sánh với Hoàng-đế nhà Tống. Chúng ta giết tên Triệu Thành, coi như khai chiến với triều Tống. Đến triều Tống ta còn không sợ; huống hồ gã Hồng-Sơn? Ta quyềt định: Nếu y thị nhập bản bang, ta tha cho. Bằng không ta giết luôn.

Thiếu-Mai thấy trên trời, có đôi chim ưng bay lượn. Biết ít nhất có người Khu-mật viện phục quanh đây, nàng nghĩ thầm:

– Người ném ám khí đánh văng kiếm tên giáo chúng bang Nhật-hồ, ắt hẳn của Khu-mật viện Đại-Việt. Ta yên tâm, vì bất cứ rủi ro nào của ta, Khu-mật viện cũng giải tỏa được.

Tự tin vào Khu-mật viện Đại-Việt, nàng cười dòn tan:

– Tên Đặng kia! Mi có giỏi cứ chạm đến sợi tóc của ta đi! Bố ta sẽ tận diệt bọn mi đến con gà, con chó cũng không tha.

Đại-Bằng cười nhạt:

– Con nha đầu này! Chết đến gáy rồi mà con đem ông, cha ra đe dọa. Được, ta cho mi được nguyện.

Y hất hàm ra lệnh:

– Chu Bắc-sứ, giết tên Triệu Thành trước.

Triệu Thành than thầm:

– Không ngờ mạng ta cùng ở đây. Ta nhất tâm, nhất trí gìn giữ công nghiệp tổ tiên, tung hoành thiên hạ. Thế mà đêm nay chết tại hoang sơn này vào tay bọn Nhật-hồ dơ bẩn. Có điều ta không hiểu bọn Đại-Bằng tuân chỉ Lưu hậu giết ta, hay chính y khống chế Lưu hậu, rồi Lưu hậu yêu sách giết ta?

Thanh kiếm vung lên, lấp lánh dưới ánh trăng.

Thình lình, có tiếng phần phật, rồi một người từ bụi cỏ vọt lên cao, rơi xuống giữa đầu Chu Sát. Y kinh hoàng, y thu kiếm về, nhảy lùi liền bốn bước.

Người kia còn ở trên không đã phóng chỉ tấn công. Chỉ phong rít lên vi vu. Chu Sát vung kiếm đỡ. Chỉ thứ nhất chạm vào kiếm, làm tay y tê chồn. Chỉ thứ nhì choang một tiếng, kiếm của y bị gẫy làm ba bốn đoạn bay trên không, lấp lánh dưới ánh trăng.

Người ấy phóng chỉ thứ ba trúng miếng hộ tâm kính ở ngực y đến choảng. Y giật bắn người lên nhảy lùi liền bốn bước nữa.

Đến đây, người kia rơi xuống cạnh Triệu Thành, y vung tay một cái, Triệu Thành bật lên khỏi mặt đất. Ở trên cao, Triệu Thành thoáng thấy mùi thơm như hoa sen, rồi chân tay cử động được. Y lộn một vòng, đáp xuống đất, trước sự kinh hoàng của mọi người.

Bang chúng Nhật-Hồ kinh ngạc:

– Người này dùng thần công gì, mà giải được Ma-tý phấn của bản bang?

Chu Sát cười sằng sặc hỏi người kia:

– Thiên đường có nẻo mi không đến. Địa ngục không đàng đẫn xác vào. Mi ném ám khí cứu tên Dư Tĩnh, ta không thèm tìm, bầy ra kế giết tên Triệu Thành để mi phải xuất hiện. Mi là ai? Tại sao lại can thiệp vào việc của bang Nhật-Hồ chúng ta? Hãy khai đi rồi chết.

Tuy miệng nói vậy để chữa thẹn. Nhưng chân tay y vẫn còn run run. Tiếng nói chưa tự nhiên.

Người kia hướng Lê Thiếu-Mai:

– Lê cô nương. Tôi không biết nói tiếng Tầu. Mong cô nương dịch cho.

Thiếu-Mai dịch lại. Người kia chỉ vào mặt Đặng Đại-Bằng:

– Người ném ám khí cứu Dư Tĩnh không phải ta. Mi giết quan chức triều Tống mặc mi, ta không lý gì tới. Song có ba lý do bắt buộc ta phải can thiệp vào vụ này.

Lý do thứ nhất, mi nói lời khinh bạc võ lâm Đại-Việt, đương nhiên trong đó có sư phụ ta, có bố ta.

Lý do thứ nhì mi khinh khi hoàng-đế Đại-Việt của ta, tội đó càng không thể tha thứ.

Lý do thứ ba, ta là con dân Đại-Việt, không để cho bọn Nhật-Hồ giết người trên lãnh thổ tộc Việt.

Thiếu-Mai lại dịch.

Lập tức cả bọn bang chúng đồng cười lên sằng sặc, huýt sáo, chửi rủa. Đặng Đại-Bằng phất tay ra hiệu im lặng:

– Thiếu niên kia! Mi tên gì ? Ta thấy mi còn trẻ, chưa muốn giết mi. Bây giờ ta cho mi một cơ hội.

– Ta tên gì, mi không được phép hỏi. Còn mi nói cơ hội. Thế cơ hội gì?

– Nếu mi thắng được một trong ngũ sứ của ta. Ta tha cho mi đi. Bằng mi bại, mi phải nhập bản bang.

Người kia cười:

– Đặng bang chủ. Gì chứ đấu võ, ta sẵn sàng. Mi chỉ định ai đấu với ta đi.

Đại-Bằng chỉ Dương Đắc:

– Trung sứ dạy dỗ y mấy chiêu.

Người kia lột khăn che, lộ ra khuôn mặt rất trẻ. Mỹ-Linh hỏi Thiệu-Thái:

– Anh có nhớ người này là ai không?

– Không!

– Anh là Trần Thông-Mai, anh của thím Thanh-Mai. Ảnh kết huynh đệ với em cùng Kim-Thành, Trường-Ninh. Không biết anh ấy có thắng được tên Trung sứ không. Ban nãy tên Tây-phương sứ giả Bành Đức chỉ đánh có một chưởng, Đỗ phu nhân bị bại. Huống hồ võ công tên này cao hơn Bành Đức nhiều.

Bốn người vây xung quanh Triệu Thành rời chỗ ra xa.

Dương Đắc tới trước mặt Thông-Mai, y vận công, rồi hất hàm:

– Tên ôn con kia! Xuất chiêu đi.

Thông-Mai vận khí, tay phát Thiên-vương chưởng. Chưởng phong như có như không. Dương Đắc thấy chưởng kỳ lạ, y vung tay đỡ. Y đỡ vào quãng không. Thông-Mai đã chuyển chưởng lên trời, rồi nhảy lùi ba bước, đẩy vào người Thiếu-Mai đang nằm đưới đất. Thiếu-Mai bị trúng độc, không cử động được. Thấy Thông-Mai hướng chưởng vào người nàng. Trong chưởng có mùi thơm như hương sen, rồi chân tay linh hoạt như thường. Biết là thuốc giải độc. Nàng vọt người dậy, đứng bên Triệu Thành.

Dương Đắc đỡ hụt của Thông-Mai một chưởng, y nổi giận phóng chưởng tấn công chàng. Trong chưởng có mùi tanh hôi khủng khiếp. Đỗ Lệ-Thanh cũng đã nhận ra Thông-Mai. Mụ nhắc chàng:

– Trần công tử! Phải cẩn thận, Chu-sa ngũ độc chưởng đấy.

Thông-Mai vọt người lên cao tránh chưởng của Dương Đắc, ở trên cao, chàng phóng xuống chiêu Thiên-vương chưởng. Hai chưởng chạm nhau đến binh một tiếng. Thông-Mai lại vọt lên cao hơn nữa.

Thời vua Hùng, làng Phù-Đổng phát sinh một nhân tài võ học kỹ vĩ nhất Lĩnh-Nam. Người đương thời không biết ngài học võ với ai, học từ bao giờ. Chỉ biết ngài trầm ngâm cả ngày không nói với một câu. Vì vậy người ta đồn rằng ngài câm.

Khi triều Ân bên Trung-quốc mang quân xâm lược. Quân triều đình bị thua liền bốn trận. Giặc Ân vượt sông Trường-giang, tiến xuống Nam như vũ bão. Chúng thừa thế vựợt qua núi Ngũ-lĩnh đe dọa thủ đô Phong-châu. Vua tuyên chiếu cầu hiền rằng: Nếu ai đuổi được giặc, sẽ phong cho làm vua vùng núi Ngũ-lĩnh.

Bấy giờ, ngài mới ứng nghĩa xin đánh giặc. Ngài ăn rất khoẻ, bằng năm, sáu người thường. Ngài dùng một thứ võ công kỳ lạ, thắng khắp anh hùng thiên hạ, được vua phong làm Nguyên-soái cầm quân đánh giặc. Ngay trận đầu ngài đã giết chết tướng Ân. Sau đó dùng hoả công đốt quân Ân, không một người sống sót về Bắc.

Hết giặc, vua ban thưởng, phong chức tước gì ngài cũng không nhận. Vua nhớ ơn, truyền lập đền thờ sống ngài, phong làm Thiên-vương.

Ngài lên núi Sài-sơn qui ẩn, mở trường dạy học. Nhân ngài cỡi con ngựa đỏ như máu. Vì vậy, sau này dân chúng huyền thoại đi rằng từ lúc ra đời, ngài câm. Cho đến năm bẩy tuổi, vua cầu hiền đánh giặc Ân, ngài vươn vai một cái, lớn bằng người thường, rồi ăn một lúc hết mấy nồi cơm lớn, xin vua đúc giáo dài, cùng ngựa sắt, xung trận.

Đệ tử đời sau của ngài, qui tụ thành phái Sài-sơn. Trong những võ công ngài còn lưu truyền, có bộ Thiên-vương chưởng. Khi chưởng phát ra, như có như không, nhưng bao gồm sát thủ kỳ diệu vô song. Chưởng này đến thời vua Trưng, chưởng môn là Nam-hải nữ hiệp chỉ còn nhớ được mười tám trong bẩy mươi hai. Sau Bắc-bình vương Đào Kỳ, tìm ra bộ Văn-lang vũ kinh, trao cho bà. Phái Sài-sơn mới có trọn vẹn .

Trải gần nghìn năm Bắc thuộc, pho chưởng này, hiện Hồng-Sơn đại phu chỉ được truyền có hơn hai mươi chiêu. Nhưng ông là thiên tài võ học. Ông sáng chế, bổ khuyết những chiêu còn thiếu, mà thành anh hùng vô địch. Vì vậy Lê Ba, tuy là sư thúc, mà võ công thua ông. Lê tưởng võ công ông cao, vì giữ bí quyết Thiên vương mật dụ. Y dùng hết tâm não giúp ông trở thành chưởng môn phái Sài-sơn, rồi yêu cầu ông cho xem Thiên-vương mật dụ. Nhưng ông tuân lời di chúc tổ tiên, không cho y coi. Y khống chế phu nhân bằng Chu-sa độc chưởng. Bà cũng chịu chết, y không toại nguyện.

Bây giờ Thiếu-Mai thấy Thông-Mai xử dụng Thiên-vương chưởng kỳ diệu muốn hơn bố mình. Nàng kinh ngạc đến đờ người ra.

Dương Đắc giao một chưởng với Thông-Mai, y kinh hãi nghĩ:

– Tên ôn con này, tuổi chưa quá hai mươi lăm, mà sao công lực đến dường này?

Y lại xuất chưởng tấn công. Áp lực chưởng của hai người cực kỳ trầm trọng. Thiếu-Mai nói sẽ vào tai Triệu Thành:

– Không hiểu Trần sư huynh học ở đâu được Thiên-vương chưởng của phái Sài-sơn. Chưởng lực anh ấy cao không kém gì bố em. Trong khi phát chưởng, anh ấy bóp vỡ một viên thuốc giải Chu-sa ma-tý độc của bang Nhật-Hồ, vì vậy đại ca với em đang tê liệt, chân tay hoạt động được như thường.

Triệu Thành chỉ cho Thiếu-Mai:

– Võ công tên Dương Đắc này thực không tầm thường, có lẽ cao hơn bọn trưởng lão Hồng-thiết giáo Đại-Việt.

Trong khi ấy một toán người từ xa mới tới. Đặng Đại-Bằng hô lớn:

– Ngừng tay!

Dương Đắc nhảy lui lại. Giữa lúc đó Thông-Mai đã phát ra một Thiên-vương chưởng. Chàng không thu chưởng về, mà nhảy lùi liền bốn bước, hầu giảm hết áp lực, rồi hướng vào chỗ Minh-Thiên, Đông-Sơn lão nhân nằm.

Bình, bình hai tiếng. Minh-Thiên, Đông-Sơn lão nhân bật người lên cao. Ở trên cao, hai người thấy chân tay hoạt động được như thường. Cả hai đáp xuống cạnh Triệu Thành.

Đại-Bằng thấy nhóm mới đến có tám người. Y không coi vào đâu, lên tiếng hỏi:

– Các người là ai? Tại sao lại can thiệp vào việc của chúng ta?

Người cầm đầu chắp tay xá một xá:

– Đệ tử phái Tiêu-sơn nước Đại-Việt, họ Lý tên Long-Bồ xin tham kiến bang chủ Nhật-hồ Trung-Quốc.

Lập tức bang chúng Nhật-hồ đồng phát ra tiếng kinh ngạc:

– Úi chà

– Ối trời ơi.

– Suýt!

Người mới đến chính là Khai-Quốc vương. Mỹ-Linh thấy đi cạnh ông còn có Thanh-Mai, Bảo-Hòa, cùng năm ngư nhân. Nàng kinh ngạc:

– Không biết năm ngư nhân là ai, mà lại đi theo chú hai?

Đặng Đại-Bằng đáp lễ:

– Đặng mỗ ở Trung-nguyên, nghe võ lâm Hoa-Việt đồn rằng ai chưa gặp Khai-Quốc vương, đừng vội xưng anh hùng. Lại nữa đại hội Thăng-long vừa rồi, người được anh hùng Lưỡng-Quảng, Đại-lý, Đại-Việt, Chiêm-thành, Chân-lập, Lão-qua, Xiêm-la tôn lên làm thủ lĩnh. Tưởng Lý Long-Bồ ba đầu sáu tay thế nào, thì ra cũng tầm thường thôi.

Bảo-Hòa lắc đầu:

– Đặng bang chủ! Bang chủ có nghe lầm không? Cậu hai của tiểu nữ chỉ nhân danh đệ tử đời thứ nhì phái Tiêu-sơn tham kiến bang chủ, chứ không nhân danh vua, quan gì cả.

– Vậy cậu người, với các người hãy đi chỗ khác, không nên can thiệp vào việc của ta mà mang họa.

Bảo-Hòa chỉ vào bọn Triệu Thành:

– Bang chủ nên biết Bình-Nam vương-gia tuân chỉ Thiên-Thánh hoàng-đế đi sứ Đại-Việt. Bang chủ cũng đừng quên đây thuộc lãnh địa tộc Việt. Khai-Quốc vương hiện lĩnh chức Phụ-quốc thái-úy, người không thể để cho bất cứ ai phạm đến sứ đoàn trên đất Việt. Vì vậy người mới nhờ Trần công tử can thiệp, không để quý bang hại Bình-Nam vương gia cũng như Dư an phủ sứ.

Đặng Đại-Bằng hừ một tiếng:

– Đây thuộc Quảng-Đông lộ, rõ ràng nằm trên lãnh địa Trung-quốc, nào có thuộc lãnh địa Đại-Việt. Khai-Quốc vương không có tư cách gì can thiệp vào.

Giọng nói của y đã có vẻ khách khí.

Bảo-Hoà cau mặt lại, lắc đầu:

– Đặng bang chủ lẩm cẩm quá đi. Chính người vừa nói rằng anh hùng tôn Khai-Quốc vương làm thủ lĩnh Lưỡng-Quảng, thế mà người lại quên ư? Đã là thủ lĩnh, đương nhiên phải có thẩm quyền cùng trách nhiệm chứ?

– Anh hùng tám nước tôn y lên làm thủ lĩnh, chứ không phải trời sai y xuống làm vua.

Thiếu-Mai nghĩ thầm:

– Mình nghe nói, Đặng Đại-Bằng là con người siêu việt, văn võ toàn tài. Thế mà hôm nay đây y cũng không dám bắt bẻ việc anh hùng tôn Khai-Quốc vương làm thủ lĩnh. Đã vậy ta mượn cuộc tiếp xúc này, nêu chính nghĩa tộc Việt cho mọi người biết.

Nàng bước ra, xá một xá:

– Đặng bang chủ, người vốn là một danh sĩ, tài trí trùm hoàn vũ, mà lý luận như vậy ư? Phàm các bậc đế vương dựng nghiệp, bao giờ cũng ứng lòng dân mà hành sự. Ứng long dân tức hợp ý trời vậy!

Chu Sát cười khẩy:

– Dân là dân, trời là trời. Lòng dân ý trời đâu phải là một. Lý luận của cô nương là lối lý luận của Nam-man, không phải của bậc trí Trung-nguyên ta. Ta không nghe.

Thiếu-Mai tuy được Hồng-Sơn đại phu dạy dỗ chu đáo. Nhưng ông vốn chống Trung-quốc, nên kiến thức Trung-quốc ông dạy nàng không làm bao. Bây giờ phải đối đầu với những con người siêu việt bậc nhất đất Tống, nàng phân vân chưa biết phải nói sao, bắt đầu từ đâu, thì tiếng Mỹ-Linh rót vào tai nàng:

– Chị Thiếu-Mai! Mỹ-Linh đây. Em theo dõi tất cả biến chuyển tại đây. Chị cứ theo lời em nhắc, đối phó với bọn này. Chị đừng quên tên Đặng Đại-Bằng, Chu Sát, Dương Đắc đều xuất thân danh sĩ, chuyên nhai văn nhấm chữ, rất khó đối phó. Nào, chị nói đi.

Rồi nàng rót vào tai Thiếu-Mai:

– Chu sứ! Được! Tôi xin vì Chu sứ, mà lý luận trên cơ sở thánh nhân Trung-nguyên. Chu sứ nên biết rằng theo tư-tưởng-gia Trung-nguyên thì Cha là trời của con. Trời là trời của cha. Không có trời mà sinh ra là việc chưa từng có vậy.

Hải Thanh lắc đầu:

– Bịa đặt. Bịa đặt ngây ngô.

Thiếu-Mai hỏi Dư Tĩnh:

– Dư an phủ sứ. Tiên sinh cho biết ý tưởng tiểu nữ vừa trình bầy xuất phát từ đâu đi. Hải hữu-hộ pháp không tin đấy.

Dư Tĩnh đáp:

– Câu đó, Lê cô nương dẫn trong sách Thuận-mệnh của Đổng Trọng-Thư đời Hán. Nguyên văn như sau “Phụ giả, tử chi thiên dã. Thiên giả, phụ chi thiên dã. Vô thiên nhi sinh, vị chi hữu dã”.

Chu Sát lắc đầu:

– Tư tưởng gì mà lẩm cẩm vậy. Ông trời xa xôi thế kia, mà bảo rằng đẻ ra người, thực ngây ngô qúa.

Thiếu-Mai biết Chu Sát bắt đầu yếu thế, nàng nghe Mỹ-Linh nhắc, tiếp:

– Đổng còn nói rõ Trời, người tương thông. Nguyên văn “Thiên nhân tương dữ”. Có nghiã người bẩm thụ được tính của trời. Cho nên đạo trời, chính là đạo người. Quan niệm đó đâu phải đến Đổng mới có? Trong kinh Thi có câu: Trời sinh ra dân, có hình phép, dân giữ tính thường, muốn có đức tốt. Nguyên văn như sau:

Thiên sinh chi dân,
Hữu vật, hữu tắc.
Dân chi bỉnh di,
Hiếu thị ý đức .

Chữ dân trong câu trên giống như chữ nhân trong Ngũ-kinh. Vì người bẩm thụ tính trời, nên trời và người quan hệ với nhau, mà người phải lấy phép tắc làm khuôn mẫu. Phải coi thiên đạo là nhân đạo. Phải ăn ở cho hợp với đạo trời. Đức thánh Khổng ít bàn về trời. Song ngài cũng nhận được rằng trời là đấng chủ tể của vũ trụ, xếp đặt mọi việc, và có luật thiên nhiên, mà người phải theo.

Nàng hỏi Đặng Đại-Bằng:

– Đặng bang chủ. Có đúng thế không?

Đặng Đại-Bằng tuy có kiến thức siêu việt, nhưng y chưa ra khỏi Trung-quốc. Y coi Đại-Việt chỉ là Giao-chỉ man di mọi rợ. Không ngờ hôm nay, y gặp một thiếu nữ lý luận đanh thép, thông kinh điển Trung-quốc. Nghe Thiếu-Mai hỏi, y gật đầu.

Mỹ-Linh lại rót vào tai Thiếu-Mai. Thiếu-Mai tiếp:

– Kìa Lão-tử. Ông không hoàn toàn chủ trương Thiên nhân tương dữ, nhưng ông nghĩ rằng Người bắt chước đất. Đất bắt chước trời. Mặc-tử tin trời mạnh hơn. Ông cho rằng trời là đấng tối cao, có uy quyền, như gia trưởng trong nhà, như vua trong nước. Người phải thuận ý trời, như con thuận ý cha, dân thuận ý vua. Sau Khổng, Lão, Mặc đến Mạnh-Tử, ông giảng ý nghĩa thiên nhân tương dữ rõ ràng hơn:

…Phát huy cùng cực cái tâm mình, thì biết được cái tính của mình. Biết được cái tính của mình, thì biết được trời.

Nàng hỏi Dư Tĩnh:

– Dư tiên sinh, nguyên văn thế nào, tiểu nữ quên mất rồi. Dường như sách Trung-dung cũng có nói đến điều này thì phải.

Dư Tĩnh nghĩ thầm:

– Cô này đã dẫn được, giải được, không lẽ không thuộc nguyên văn? Chẳng qua, cô mượn mình làm chứng mà thôi.

Nghĩ vậy y trả lời:

– Ý trên, lấy trong thiên Tận-tâm, sách Mạnh-Tử, nguyên văn như sau “Tận kỳ tâm giả, tri kỳ tính dã. Tri kỳ tính, tắc tri thiên mệnh”. Còn sách Trung-dung ư? Có, nói như sau:

“…Thiên mệnh chi vị tính. Suất tính chi vị đạo. Tu đạo chi vị giáo”.

Ghi chú

Nghĩa là: Mệnh trời ban cho là tính, thuận tính gọi là đạo. Sửa đạo cho hợp gọi là giáo.

Lê Thiếu-Mai lại nhắc lời Mỹ-Linh:

– Đặng giáo chủ. Lê sứ! Xét như thế dù Hoa, dù Việt, thì ý dân là ý trời. Khai-Quốc vương được anh hùng tôn lên làm vua tộc Việt tức thuận lòng trời, ứng lòng người vậy.

Chu Sát tự hào mình người nhai văn, nhấm chữ, giỏi nhất Trung-nguyên, chỉ vì khinh địch, bị Mỹ-Linh bẻ gẫy. Y đánh trống lảng, hướng vào Triệu Thành:

– Bình-Nam vương gia, Vương-gia thân làm Phụ-chính đại thần. Vương-gia hiện diện ở đây, mà để cho bọn Nam-man nhận Lưỡng-Quảng làm lãnh thổ Đại-Việt, còn ra thể thống gì nữa. Vương-gia chỉ ngồi dưới Thiên-Thánh hoàng-đế, uy trùm Hoa-hạ, vũ trấn man di, mà phải nhờ bọn Nam-man che chở, rồi cúi đầu nhường đất Lưỡng-Quảng cho chúng ư?

Ngư nhân mũ đỏ cười khành khạch, y rung tay một cái, cần câu có một chùm những hạt chì chụp lên đầu Chu Sát. Chu Sát vung tay đỡ, nhưng y vẫn bị hai viên chì trúng người. Một viên trúng huyệt Hạ-quan ở gần mang tai, một viên trúng cùi chỏ. Tay y tê liệt, miệng bế, không mở ra được nữa. Ngư nhân lạng người tới tát cho y hai cái:

– Ta cho mi hai cái bạt tai, để chừa thói hỗn láo, dám gọi chúng ta bằng danh Nam-man.

Mọi người kinh hãi, không hiểu võ công ngư nhân dùng là võ công gì, mà chỉ một chiêu khiến Chu Sát tê liệt toàn người.

Ngư nhân mũ đỏ tiếp:

– Hoa hay Việt, trước đây đều là con cháu vua Thần-nông. Nam, Bắc cùng huyết tộc. Chỉ vì bọn tham tàn như mi, mới khiến Hoa, Việt có chiến tranh. Trọn đời, ta ghét nhất những đứa phân chia gây thù hận Hoa, Việt.

Y cười nhạt:

– Chu Bắc-sứ! Có phải Chu Bắc-sứ nói rằng người xin quy phục Tống triều chăng?

Chu Sát nghe ngư nhân mũ đỏ hỏi, y nổi giận cành hông, định há mồm mà há không được, thành ra giống như y gật đầu.

Ngư nhân mũ đỏ tiếp:

– Bắc sứ cải tà qui chính như vậy thực phải. Khổng-tử nói: Hữu quá tắc cải. Nhà Phật dạy “Khổ hải vô bờ, hồi đầu thị ngạn”. Chu sứ qui phục triều đình, thực phúc cho dân Trung-quốc biết mấy!

Ngư nhân mũ đỏ nói với Triệu Thành:

– Vương-gia! Bắc-sứ xin quy phục, vậy Vương-gia cho Bắc-sứ một chức quan, để ấm mồ tổ tiên đi chứ?

Triệu Thành đã bị năm ngư nhân phá phách suốt mấy ngày. Y hiểu năm ngư nhân không hề ác ý với y. Huống hồ bây giờ chúng đi với Khai-Quốc vương, cứu y khỏi tai nạn. Cho nên y cũng hùa theo ngư nhân:

– Dưới tay danh tướng, ắt có cường binh. Thiếu hiệp là tùy tùng Khai-Quốc vương có khác, thông tuệ dị thường.

Y nói với Chu Sát:

– Chu huynh, bằng vào võ công, cô-gia sẽ tâu lên Thiên-tử, phong cho Chu huynh làm Chiêu-thảo-sứ trấn ngự biên cương.

Chu Sát bị đánh bế hàm, nói không được, lại bị ngư nhân, rồi Triệu Thành trêu chọc. Y tức muốn điên lên được.

Ngư nhân mũ đỏ nói:

– Chu Chiêu-thảo sứ. Mừng Chiêu-thảo sứ thoát khỏi vũng lầy, về làm tôi triều đình. Tuy Chu tướng-quân đã quy phục triều đình, song vấn đề tướng-quân nêu ra thực không đúng. Thân quận-chúa vừa nói Lưỡng-Quảng thuộc lãnh địa tộc Việt, chứ có nói thuộc Đại-Việt đâu? Chu tướng-quân phải hiểu rằng tộc Việt với Đại-Việt khác xa lắm. Cho nên Bình-Nam vương gia mới không nói gì, chứ người đâu có nhường đất cho Đại-Việt?

Dương Đắc chỉ mặt ngư nhân mũ đỏ:

– Ban nãy người dùng yêu pháp bắt Lưu tứ đệ của ta đi. Bây giờ mi lại hại tam đệ. Lại đây, lại đây, chúng ta đấu với nhau trăm chưởng.

Thông-Mai bước ra cười khanh khách:

– Tên họ Đặng kia. Vừa rồi mi to mồm khinh khi võ lâm Đại-Việt. Để ta tiếp tục đấu với tên Dương Đắc cho xong lời ước. Nào!

Thông-Mai vung chưởng tấn công. Dương Đắc cười nhạt:

– Ta há sợ mi sao?

Y vung chưởng đỡ, bình một tiếng, Thông-Mai lui một bước. Tuy thắng thế, mà Dương Đắc cảm thấy như có gì bất ổn ở trong chưởng của đối phương. Y tấn công tiếp chưởng nữa. Thông-Mai đỡ, lui về sau ba bước, chàng đếm:

– Hai.

Dương Đắc lại tấn công. Mỗi chiêu y phát ra, Thông-Mai lùi một bước, miệng đếm. Tay y lại cảm thấy nặng chĩu thêm lên . Đến chiêu thứ mười, Thông-Mai nhảy lui lại, phất tay:

– Mi chết rồi, ta không đấu với mi nữa.

Dương Đắc cảm thấy tay nặng nề, y đưa lên xem: Hai bàn tay y tím ngắt như người bị trúng Chu-sa độc chưởng. Thình lình y kêu lên tiếng ối rồi hét lên be be như con dê.

Đại-Bằng móc trong bọc ra viên thuốc, nhét vào miệng Dương Đắc. Dương Đắc bớt đau, y ngồi xuống vận công. Đại-Bằng hất hàm hỏi:

– Vị thiếu niên kia, thì ra người cũng biết xử dụng Hồng-thiết độc công đấy. Ngươi là đệ tử của cao nhân nào, mà ta mắt kém, không nhìn ra.

Thông-Mai lắc đầu:

– Ta họ Trần tên Thông-Mai. Võ công của ta do bố ta truyền dạy. Phái Đông-a thuộc danh môn chính phái, đến xử dụng ám khí có chất độc còn bị cấm, huống hồ độc chưởng. Vừa rồi, Dương trung sứ dùng độc chưởng tấn công ta. Ta chỉ nhân đó đẩy trả về y mà thôi.

Tả hộ pháp Phong Hoa nói với Đặng Đại-Bằng:

– Bang chủ! Gã này là tên Trần Thông Mai, con cả của Trần Tự An, chưởng môn phái Đông-a bên Đại-Việt. Trước đây gã bỏ đi tu, cầu phúc cho mẹ. Gã mới hoàn tục.

Từ Đặng Đại-Bằng cho đến bang chúng đều bật lên tiếng úi chà, rồi ối, rồi ái chu cha.

Nguyên vì danh tiếng phái Đông-a, cùng Trần Tự-An vang rền khắp Hoa, Việt.

Hữu hộ pháp Hải Thanh hỏi:

– Trần đại công tử! Ta nghe võ lâm truyền tụng rằng họ không sợ Thiên-Lôi, cũng chẳng ngán Hà-Bá, mà không dám gây hấn với phái Đông-a. Có đúng thế không? Ta lại nghe nói đại-hiệp Tự-An võ công kinh thế hãi tục, tính cao ngạo, bác học đa năng, thường ôm gối ngồi cao. Thế mà đại công-tử lại lăn mình vào làm tùy tùng cho Lý Long-Bồ. Tiếc ơi là tiếc!

Lê Thiếu-Mai dịch lại. Thông-Mai định trả lời, Bảo-Hòa bước ra chắp tay xá Hải Thanh:

– Hải phu nhân! Tiểu nữ nghe phu nhân thuộc loại kiến thức cao đệ nhất Trung-nguyên, cớ sao kiến giải sự việc như thế? Đại hiệp Tự-An tài ba gì chăng nữa, cũng thuộc hàng sĩ phu Đại-Việt, có trách nhiệm với sự hưng vong của đất nước. Đại hiệp không ưa công danh, do tính thích tiêu dao tự tại. Chứ đâu phải không thích công danh, mà buông tay hết cả.

Nàng chỉ Thông-Mai:

– Còn Trần đại-công tử có mặt tại đây hôm nay, không phải làm tùy tùng cho Khai-Quốc vương, mà theo giúp muội phu, giữ đại nghĩa thiên hạ.

Hải Thanh ngơ ngác:

– Muội phu?

Bảo-Hòa chỉ Thanh-Mai:

– Khai-Quốc vương phi, chính là em gái của Trần đại-công tử. Bình sinh Trần đại-công tử cực kỳ sủng ai Khai-Quốc vương-phi. Nên khi nghe vương-phi theo vương gia đi sứ Đại-Tống, Trần đại-công tử cùng đi để giúp em gái.

Thông-Mai móc ba viên thuốc giải độc bóp vỡ tan ra, rồi bước đến bên Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính, Địch Thanh. Chàng vung tay phóng ra ba Thiên-vương chưởng. Bình, bình, bình, chân tay ba người cử động được, vội đứng dậy, đến bên Triệu Thành.

Địch Thanh chỉ mặt Đặng Đại-Bằng:

– Bọn Nhật-Hồ nhà mi chỉ giỏi dùng độc ám toán. Vương gia ta lấy lượng cả bao dung người, mà người nhân đó dùng độc hại chúng ta. Lại đây, ta đập mi nát thây ra mới được.

Đại-Bằng cười:

– Chúa tôi mi mới nếm chút Chu-sa ma-tý phấn, mà đã ngã lổng chổng rồi. Ta còn nhiều thứ thuốc khác, mi muốn nếm cứ lại đây.

Nghe Đại-Bằng nói, trên từ Triệu Thành cho tới Địch Thanh đều ớn da gà. Họ không biết phải đối phó sao cho phải bây giờ. Đánh thì lại ngại độc chưởng. Mà lui, thì còn gì danh dự Khu-mật viện Đại-Tống.

Khai-Quốc vương hướng Triệu Thành:

– Vương-gia! Hôm nay tiểu vương làm chủ, Vương-gia làm khách. Bọn Nhật-Hồ phạm đại giá Vương-gia, trăm lỗi đều do anh em tiểu-vương cả. Xin Vương-gia để tiểu-vương dẹp đám tà ma này.

Triệu Thành đang lưỡng lự chưa biết giải quyết sao, thì Khai-Quốc vương nhảy ra lãnh dùm. Y mừng quá:

– Đa tạ vương gia.

Nói xong y chợt tỉnh ngộ:

– Mình đáng chết thực. Tên Long-Bồ nói vậy có nghĩa đất Lưỡng-Quảng thuộc lãnh địa của y. Mình đồng ý, chẳng hóa ra công nhận chủ quyền của y ư?

Nhưng đã trót. Vả lại dù y muốn ra tranh phong với bọn Nhật-hồ, e chỉ mất mạng vô ích. Y đành im lặng.

Khai-Quốc vương hướng vào Đặng Đại-Bằng cùng đám bang chúng:

– Cô-gia nhắc lại, các vị vốn thuộc dân Tống. Hiện nay trên có thánh thiên-tử trị vì. Các vị không bảo nhau làm lợi cho nước, cũng đừng làm hại. Bình-Nam vương lấy lượng cả thu dụng các vị, mở cho các vị đường sống, rõ ràng hành vi của đấng tể thần. Thế mà các vị lấy ơn làm oán tung phấn độc hại người.

Vương nghiêm giọng:

– Đây thuộc lãnh địa tộc Việt. Cô-gia theo gương Bình-Nam vương-gia. Cô-gia cho các vị suy nghĩ một lúc. Ai về quy phục Tống triều, sẽ được giải Chu-sa ngũ độc chưởng vĩnh viễn ngay tại đây. Bằng chống lại, sẽ bị bắt giải lên quan nha chiếu luật xử tội.

Phong Hoa suy nghĩ một lúc rồi hỏi Khai-Quốc vương:

– Họ Phong này nghe nói, trong kỳ đại hội Thăng-long vừa rồi, Hồng-thiết giáo Đại-Việt đã giải tán, thành lập Lạc-long giáo. Tân giáo chủ, một thiếu niên, võ công vô song, vốn là đệ tử Phật Di-Lặc, nên trị tuyệt Chu-sa Nhật-Hồ độc chưởng cho giáo chúng. Không biết có đúng không?

Khai-Quốc vương hướng về chỗ Mỹ-Linh, Thiệu-Thái nằm vẫy tay:

– Hai cháu ra đây!

Mỹ-Linh, Thiệu-Thái đứng dậy, sửa quần áo ngay ngắn, đến trước Khai-Quốc vương quỳ gối hành đại lễ:

– Cháu xin bái kiến thúc phụ.

– Cháu xin bái kiến cữu phụ.

Vương chỉ vào đám Triệu Thành:

– Cháu hãy giải độc cho các vị đây đi.

Thiệu-Thái đến trước Triệu Thành, chàng chắp tay nói:

– Vương gia! Trần đại ca đã phóng thuốc giải Chu-sa ma-tý cho Vương-gia. Tuy vậy độc chất còn nhiều trong cơ thể. Xin Vương-gia ngồi xuống, để tiểu sinh khu trục ra.

Triệu Thành ngồi xếp chân. Thiệu-Thái vung tay phẩy nhẹ lên đầu Triệu Thành. Lập tức trên người y toả ra mùi hôi rất khó chịu. Triệu Thành cảm thấy khoan khoái khác thường.

Nguyên Thành xuất thân đệ tử phái Thiếu-lâm, luyện tập Thiền-công từ nhỏ. Từ hôm sang Đại-Việt, trước sau bị phóng vào người bốn năm lần Chu-sa độc, nên giữa Phật tính bị pha lẫn ma tính, trong người thường hay bứt rứt. Bây giờ nhờ Thiệu-Thái dùng Thiền-công đẩy độc tố ra, trong người Thành chỉ còn lại Phật tính. Y cảm thấy tâm mở ra, cực kỳ sảng khoái.

Thiệu-Thái chắp tay hướng Minh-Thiên:

– Đại sư. Đệ tử xin gỡ nghiệp cho đại sư.

Minh-Thiên mỉm cười:

– Đa tạ Thân Giáo-chủ.

Thiệu-Thái lại vung tay lên. Minh-Thiên rùng mình một cái. Ông ngồi xuống vận công đẩy độc tố ra ngoài.

Thiệu-Thái đến trước Phạm Trọng-Yêm:

– Phạm Khu-mật sứ. Khu-mật sứ vừa bị trúng Chu-sa độc phấn trên soái thuyền, vừa rồi lại bị trúng Chu-sa ma-tý phấn. Tiểu bối xin trị cho tiền bối.

– Đa tạ giáo chủ.

Thiệu-Thái chĩa ngón tay phóng vào huyệt Đại-trùy, Bách-hội của Phạm Trọng-Yêm. Y rùng mình một cái, người toát mồ hôi ra như tắm.

Sau khi trị xong cho đám Triệu Thành. Thiệu-Thái tới trước Dương Đắc:

– Dương trung sứ. Trung sứ thụ lĩnh Chu-sa ngũ độc chưởng lâu ngày. Ban nãy bị Trần công tử đẩy ngược chất độc về người trung-sứ. Nếu Trung-sứ chịu quy phục triều đình. Hậu bối xin trị hết hai thứ nọc độc cho Trung-sứ.

Dương Đắc đến trước Triệu Thành lạy phục xuống đất:

– Thần nguyện quy phục. Mong Vương-gia thu nhận.

Triệu Thành nói với Thiệu-Thái:

– Thân giáo chủ. Xin giáo chủ trị cho Dương huynh.

Thiệu-Thái vung tay lên, một chưởng như gió thoảng qua, mũi Dương Đắc đổ máu xối xả. Máu đổ đến đâu, mặt y tươi đến đó. Một lát, máu khô. Y vận khí, thấy lưu thông như thường. Biết Chu-sa ngũ độc đã trục ra hết. Y cúi đầu tạ Thiệu-Thái:

– Đa tạ Giáo-chủ.

Y đến trước Đặng Đại-Bằng chắp tay xá:

– Đặng đại-ca. Chúng ta sở dĩ họp nhau tái lập bản bang chẳng qua bị triều đình truy lùng, hơn nữa bị Chu-sa ngũ độc chưởng hành hạ. Bây giờ triều đình ân xá, ngũ độc được trị. Đệ xin ra khỏi bản bang, nên đến từ biệt đại ca.

Khi bang Nhật-hồ bị triều Tống đem quân đến tiêu diệt. Tất cả các cao thủ đều bị giết. Đặng Đại-Bằng đi vắng, nên thoát nạn. Y trốn tránh ít lâu, rồi từ từ qui tụ bang chúng, tái lập bang. Gần đây, y cho một nữ bang chúng đột nhập hoàng cung Tống, trở thành một phi tần của Thiên-Thánh hoàng-đế. Phi tần này khống chế Lưu hậu. Không ngờ Lưu hậu lại khống chế ngược lại, bà thu dụng nhiều cao thủ bang Nhật-hồ, phong chức tước cho. Vì vậy thế lực của bang lại nổi lên.

Người phi tần nhờ Lưu hậu phải cung cấp hết những tin tức về kho tàng Tần-Hán. Lưu hậu đòi Khu-mật viện tấu trình, rồi ba trao cho bang Nhật-hồ. Mụ cung cấp bản đồ giả cho chúng.

Lưu hậu nghĩ rằng trong các phe phái tranh dành kho tàng, bang Nhật-hồ, cũng như Triệu Thành thuộc thành phần có thực lực nhất. Mụ đang tìm cách tiêu diệt hai mầm mống này. Bây giờ bang Nhật-hồ tự đưa đầu vào bẫy. Mụ tìm cách cho bọn Nhật-hồ với Triệu Thành chém giết nhau. Mụ ở giữa thủ lợi.

Được bản đồ giả, Đặng tưởng thực, hăm hở suất lĩnh bang chúng đi Quảng-Đông, mưu đào lên. Y vốn có chí lớn, định rằng nếu đào được kho tàng. Y tung ra kiến thiết bang chúng, mua chuộc quan lại, rồi cướp ngôi vua.

Y tưởng với lực lượng bang Nhật-hồ xử dụng hàng trăm thứ độc khác nhau. Y khống chế dễ dàng các bang hội, võ phái đoạt kho tàng. Trở ngại nhất của của y là Bình-Nam vương Triệu Nguyên-Nghiễm, cải danh Triệu Thành. Vì Nguyên-Nghiễm thống lĩnh các cao thủ Khu-mật viện, lại nắm binh quyền trong tay.

Về phía Lưu hậu, khi mụ thấy bọn Nhật-hồ đi Quảng-Đông, mụ vội vã sai ngựa lưu tinh truyền chỉ cho Triệu Thành phải đi Quảng-Đông đào kho tàng. Mục đích cho trai, cò đại chiến.

Bọn Nhật-hồ bầy mưu dẫn dụ cho Triệu Thành cùng tùy tòng đến hoang sơn, rồi giết đi. Thành công trong tầm tay. Thình lình nhóm Việt xuất hiện. Bọn y bị thất bại liên tiếp. Bây giờ Khai-Quốc vương còn sai Thiệu-Thái giải độc cho bang chúng. Như vậy bang Nhật-hồ có cơ tan rã. Bao nhiêu mưu đồ thành một trường hư ảo.

Y nghĩ rất nhanh:

– Ta phải giết tên Dương Đắc này. Mới mong bang chúng kinh hãi.

Y vờ vỗ vai Dương Đắc:

– Dương đệ không nên đa lễ.

Thình lình y vỗ lên đầu Dương Đắc một chưởng. Dương Đắc tuyệt không ngờ Đặng ra tay ám toán, y không đỡ kịp. Bộp một tiếng, đầu y vỡ đôi, mắt lòi ra ngoài, rồi gục xuống.

Diễn biến xẩy ra đột ngột. Mỹ-Linh, Thiệu-Thái muốn ra tay cứu trợ, mà không kịp.

Bảo-Hoà nổi lôi đình. Nàng chỉ mặt Đặng Đại-Bằng:

– Tên ăn cướp kia. Mi tàn độc không còn chỗ nói. Hãy đỡ chưởng của ta.

Nàng phóng ra liền hai chiêu Phục-ngưu thần chưởng. Đại-Bằng vung tay đỡ. Bình, bình. Y thấy trong chưởng của Bảo-Hoà vừa âm, vừa dương hỗn hợp rất kỳ lạ. Máu huyết trong người y chạy tán loạn.

Đại-Bằng cười nhạt:

– Con lỏi kia, mi bị trúng độc của ta rồi. Mau quỳ xuống bái ta làm sư phụ. Ta sẽ ban thuốc giải cho.

Còn Bảo-Hòa, nàng thấy chân khí chạy hỗn loạn, cánh tay tê dại. Nàng thấy nội lực gã họ Đặng hơi giống Địch Thanh. Một thứ nội lực chính đại quang minh chứ không phải tà môn. Bất giác nàng đưa mắt nhìn Đông-Sơn lão nhân như ngụ ý muốn hỏi nguyên do. Thình lình nàng cảm thấy miệng đắng, mắt hoa đầu váng.

Biết bị trúng độc, nàng hướng Thiệu-Thái:

– Anh!

Từ nhỏ, Thiệu-Thái cực kỳ sủng ái Bảo-Hòa. Có thể nói, chàng thương em còn hơn thương thân mình. Thấy em bị trúng độc thủ của Đại-Bằng.
Thiệu-Thái cực kỳ phẫn nộ:

– Tên họ Đặng kia! Hôm nay ta phải giết mi, để trừ cho võ lâm một con rắn độc.

Chàng hít hơi, phát chiêu Phản-bản hoàn nguyên trong pho Mục-ngưu thiền chưởng. Chưởng phong mạnh như nghiêng trời lệch đất. Đại-Bằng thấy chiêu chưởng kỳ dị. Y tung ra một độc chưởng. Bình. Đại-Bằng lảo đảo lui lại bốn bước liền, lưng y chạm vào một gốc cây lớn. Khí huyết trong người y chạy nhộn nhạo cực kỳ khó chịu.

Tất cả đám Nhật-hồ có mặt đều kinh hãy kêu lên:

– Ái chà.

– Ối.

– Chà chà.

Vì Đại-Bằng hiện là cao thủ số một số hai Trung-nguyên. Năm trước, thủ tọa La-hán đường chùa Thiếu-lâm đấu với y còn bị bại. Mà nay, y chỉ đỡ một chưởng của Thiệu-Thái, đã ra nông nỗi.

Kinh hãi, Đại-Bằng rút kiếm ra đẩy vào ngực Thiệu-Thái một chiêu thần tốc. Chàng vọt người lên cao tránh. Đại-Bằng xỉa kiếm lên không, mong kết liễu tính mệnh chàng. Thiệu-Thái đánh xuống chiêu Kiến-tích dã ngưu. Chưởng phong bao trùm người Đại-Bằng, đẩy kiếm của Bằng lệch sang một bên.

Mỹ-Linh vọt mình tới trước Thiệu-Thái, nàng rút kiếm chĩa vào ngực Đại-Bằng. Đại-Bằng đang chiết chiêu với Thiệu-Thái, thình lình một thiếu nữ diễm lệ nhảy vào can thiệp. Chiêu đầu tiên cực kỳ thô kệch. Y kinh ngạc, tự hỏi:

– Con nhỏ này muốn tử tử chăng?

Y dùng hai ngón tay, định kẹp sống kiếm Mỹ-Linh. Thình lình kiếm Mỹ-Linh bật đến véo một tiếng chĩa vào vai trái y. Kinh hoảng, y bật ngửa người ra sau, lộn đi liền ba vòng tránh khỏi. Y vừa chạm chân xuống đất, thì cảm thấy cổ đau nhói. Kiếm Mỹ-Linh thủy chung vẫn chĩa vào huyệt Nhân-nghinh. Y thụt người xuống, rồi vọt lên cao. Mũi kiếm Mỹ-Linh như dính với cổ y, cũng hạ xuống, vọt lên. Hai người cùng đáp xuống.

Lòng Đại-Bằng nguội như tro tàn. Y biết đối thủ không muốn giết mình, nhưng vẫn nói cứng:

– Mi đánh trộm, như vậy không kể.

Mỹ-Linh thu kiếm về, định ra chiêu tiếp, thì Đông-Sơn lão nhân nhảy đến, chắn giữa Đại-Bằng và nàng. Lão chắp tay:

– Tên này thiếu bần đạo món nợ lớn từ lâu. Xin công chúa ban cho bần đạo được đòi y.

Mỹ-Linh nhảy lùi lại. Đông-Sơn lão nhân chỉ Đặng Đại-Bằng:

– Đặng huynh, người nhớ ta chăng?

Đại-Bằng cười nhạt:

– Ta biết hiện mi làm chó săn cho bọn Tống.

Đông-Sơn lão nhân hướng vào đám bang chúng nói lớn:

– Thưa các anh hùng thiên hạ. Tên Đại-Bằng này, trước đây là đệ tử phái Hoa-sơn. Sau y quy phục bang Nhật-Hồ, rồi nhẫn tâm đánh thuốc độc, giết sư phụ. Vì vậy hôm nay, bần đạo xin vì phái Hoa-sơn thanh lý môn hộ.

Nói rồi ông lột miếng da hai bên má ra, khuôn mặt đang từ bầu biến ra dài. Đặng Đại-Bằng cười nhạt:

– Sư đệ đó sao? Người vẫn còn sống ư?

– Dĩ nhiên ta còn sống, để đòi nợ mi.

Đông-Sơn lão nhân vung kiếm lên. Ánh kiếm như chớp lóe trong đêm. Đại-Bằng trả lại một chiêu.

Dưới bóng trăng, hai người cùng thuộc kiếm thuật danh gia, cùng một môn hộ, họ tung kiếm đấu với nhau. Ánh kiếm như hai quả cầu bạc lẫn lấp lánh. Không ai còn phân biệt được Đông-Sơn với Đại-Bằng.

Mọi người gần như nín thở theo dõi hai kiếm khách số một Trung-quốc tranh tài. Trải hơn năm trăm hiệp, Đông-Sơn lão nhân bắt đầu hơi yếu thế. Bởi Đại-Bằng cũng học Hoa-sơn kiếm pháp như Đông-sơn lão nhân. Nhưng y luyện thêm Hồng-thiết công, nên công lực y cao hơn ông nhiều.

Triệu Thành đến bên Mỹ-Linh, y hỏi:

– Công chúa! Công chúa là đệ nhất kiếm pháp Nam-thiên, mong công chúa chỉ cho Đông-Sơn lão nhân thắng tên Đại-Bằng.

Mỹ-Linh chợt nhớ lại trước đây Thiệu-Thái đấu với Nhật-Hồ bất phân thắng bại, Minh-Không quốc sư bảo nàng tụng kinh Thủ-lăng nghiêm. Cứ sau mỗi câu tụng, ma tính trong người Nhật-Hồ giảm dần. Cuối cùng lão bại.

Nàng đến bên Minh-Thiên:

– Đại sư! Xin đại sư cùng đệ tử tụng bài chú kinh Thủ-lăng-nghiêm kinh hầu giúp Đông-Sơn lão nhân một tay.

Minh-Thiên hiểu ý Mỹ-Linh, ông nói nhỏ:

– Đối với Nhật-Hồ lão nhân, toàn thể võ công của ông đều thuộc tà ma ngoại đạo, tụng Thủ-lăng nghiêm mới có hiệu quả. Còn võ công Đặng Đại-Bằng nửa chính, nửa tà, tung kinh Thủ-lăng nghiêm không ích gì. Y… y giết sư phụ, ác nghiệp chồng cao hơn núi. Muốn y hối lỗi, ta phải tụng kinh Viên-giác.

Mỹ-Linh đã nghe sư phụ Huệ-Sinh nhắc đến kinh Viên-giác nhiều lần. Nàng chỉ hiểu lờ mờ rằng đây thuộc kinh Đại-thừa, chứ nàng chưa từng tụng qua. Nàng hỏi:

– Đại sư! Đệ tử chưa từng tụng kinh Viên-giác, không hiểu ý nghĩa mầu nhiệm, mong đại sư đừng tiếc công chỉ dạy.

Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên ở hoang sơn, chỉ nghe Mỹ-Linh nói mấy câu, Minh-Thiên cũng nhận ra cô Công-chúa này được giảng dạy rất kỹ về Phật-pháp. Ông theo Bình-Nam vương sang Đại-Việt, rõ ràng với ý định chống triều Lý. Thế mà Mỹ-Linh hiểu hoàn cảnh của ông, không hận thù, một điều xưng đệ tử, hai điều xưng đệ tử. Bây giờ nàng hỏi về kinh Viên-giác, ông giảng:

– Kinh Viên-giác là kinh Đại-thừa thuộc Đốn-giáo. Kinh này Phật Thích-ca nói về cái nhân địa, pháp hạnh thanh tịnh của đức Như-Lai lúc tối sơ phát khởi, cùng nói về những vị đại thừa bồ tát, phát tâm thanh tịnh, xa lìa mọi bệnh, khiến chúng sinh đời mai đây khi cầu đại thừa, không mắc tà kiến.

Lời giảng của Minh-Thiên sang sảng, khiến mọi người đều nghe rõ. Ông kết luận:

– Trong kinh, đức Thích-Ca giảng giải thực nhiều, nhưng thu lại chỉ có bài kệ sau. Xin thí chủ nghe cho rõ:

Ông đọc lớn:

Phổ-Hiền, nhữ đương tri,
Nhất thiết chư chúng sinh.
Vô thủy huyễn vô minh,
Giai tùng chư Như-Lai.
Viên-giác tâm kiến lập.
Do như hư không hoa.
Y không nhi hữu tướng,
Không hoa nhược phục diệt,
Hư không bản bất động.

Minh-Thiên ngừng lại, thấy tất cả mọi người, dường như chú ý lời ông giảng hơn là cuộc chém giết giữa hai kiếm khách. Thanh-Mai, Bảo-Hòa cùng lắc đầu, tỏ vẻ không hiểu. Mỹ-Linh dịch sang tiếng Việt:

Phổ-Hiền, người phải biết!
Tất cả mọi chúng sinh,
Vô thủy, huyễn vô minh,
Từ nơi chư Như-Lai.
Viên giác tâm kiến lập.
Cũng như hư không hoa,
Do không, lại có tướng.
Nếu không hoa diệt hết,
Hư không vốn vô động.

Bảo-Hoà gật đầu:

– Ý đức Thích-ca muốn nói: Tất cả chúng sinh, có bao nhiêu huyễn hoá cũng đều ở trong tâm Như-Lai viên giác diệu mà sinh ra, cũng như hoa ở hư không, từ trong hư không mà sinh ra, hoa kia tuy diệt, hư không không sao mất đi.

Minh-Thiên cười rất tươi:

– Quận chúa giác ngộ thực mau.

Trong khi Minh-Thiên đối đáp với Bảo-Hòa, Mỹ-Linh, lời lời đều lọt vào tai Đặng Đại-Bằng. Y vốn thông minh tuyệt đỉnh, nên hiểu hết.

Trước đây y được cao nhân phái Hoa-sơn truyền bản lĩnh chính phái, vào hàng đệ nhất. Sau vì ham danh vọng, y bỏ theo bang Nhật-Hồ, rồi luyện Hồng-thiết công. Vì vậy trong người y vốn tiềm tàng chính khí. Chỉ vì chính khí bị ma tính Hồng-thiết che lấp, nên hóa ra người tàn độc. Nay nhờ lời kinh nhập tâm, ma tính từ từ giảm. Phật tính bừng sáng chói. Cũng vì thế, ma công Hồng-thiết rời xa người y. Những chiêu kiếm của y dần dần đi đúng Hoa-sơn kiếm pháp.

Minh-Thiên đọc tiếp:

Huyễn tùng chư giác sinh,
Huyễn diệt, giác viên mãn.
Giác tâm bất động cố.
Nhược bi chư bồ tát.
Cập mạt, thế chúng sinh.
Thường ưng viễn ly huyễn.
Chư huyễn tất giai ly,
Nhược mộc trung sinh hỏa,
Mộc tận, hỏa hoàn diệt.
Giác tắc vô tiệm thứ,
Phương tiện, diệc như thị

Mỹ-Linh dịch sang tiếng Việt cho Thiệu-Thái nghe:

Huyễn từ giác mà sinh,
Huyễn diệt, ác đầy tròn.
Giác tâm không động chuyển.
Nếu như các bồ tát,
Cùng chúng sinh thời mạt,
Phải nên lìa xa huyễn,
Tất cả huyễn đều ly.
Như trong gỗ sinh lửa,
Gỗ hết, lửa hoàn diệt.
Giác thì không tiệm thứ,
Phương tiện cũng như thế.

Ghi chú

Bài kệ này, chúng tôi ghi lại theo bản của Thái-hư đại sư, do hòa thượng Thích Trung-Quán dịch, chú giải, Phật-học viện quốc tế, California Hoa-kỳ xuất bản, Phật-lịch 2528 (1984), trang 37.

Đặng Đại-Bằng đang tung những chiêu kiếm thần tốc mong hạ đối phương, nghe đến câu Giác thì không tiệm thứ y nghĩ thầm:

– Chúng sinh đều mê muội! Ai tỉnh đây? Ta tỉnh rồi, còn ở trong Hồng-thiết giáo làm chi?

Trong tâm y, hình ảnh thời thơ ấu sống lại: Y xuất thân con nhà danh gia, được thu làm đệ tử Hoa-Sơn cùng bốn người bạn. Tất cả năm người, sau đều nổi danh Hoa-sơn ngũ thần kiếm. Thế nhưng, tham vọng muốn làm vua, y nhập bang Nhật-Hồ, được bang trưởng tin yêu. Sau bang trưởng qua đời, nhà Tống cướp ngôi nhà Chu. Bang bị tận diệt. Uất khí bốc dậy, y tụ tập huynh đệ tái lập. Trong mấy chục năm qua, bang chúng giết người hàng muôn hàng ức, biết bao nhiêu mà kể. Bây giờ, tuổi già, y mới hơi động lòng hối hận.

Nghĩ đến đó, ma chướng thoát ra hết. Độc chất Chu-sa cũng theo ý nghĩ ra ngoài. Trí óc y như tê đại, chiêu số chậm dần, chậm dần. Cuối cùng y ném kiếm, ngồi chắp tay đọc lại bài kệ của kinh Viên-giác. Độc chất tiết ra càng mạnh, mùi tanh hôi nồng nặc.

Minh-Thiên vẫy tay ra hiệu cho mọi người im lặng, để Đặng Đại-Bằng vận công. Ông nháy Mỹ-Linh, rồi cả hai cất cao giọng đọc bài kinh Bát-nhã:

Quán-tự-tại bồ tát,
Hành thâm Bát-nha ba la mật đa thời,
Chiếu kiến ngũ uẩn giai không,
Độ nhất thiết khổ ách.. .

Sau khi Minh-Thiên, Mỹ-Linh đọc hết bài kinh Bát-nhã, chất độc trong người Đặng Đại-Bằng thoát ra hết. Y cảm thấy người nhẹ nhõm vô cùng. Biết mình đã rời cái ách Chu-sa ngũ độc chưởng suốt mấy chục năm nay hành hạ, tàn phá cơ thể. Y đến trước Mỹ-Linh, Minh-Thiên chắp tay:

– Đa tạ đại sư, cùng Công-chúa giác ngộ cho.

Minh-Thiên nắm tay y:

– Mừng cho bang chủ, thoát nghiệp Hồng-thiết ma kinh.

Y quỳ gối trước Đông-Sơn lão nhân:

– Sư đệ! Ta tội lỗi quá nhiều. Sư đệ mau giết ta đi, để tiêu trừ nghiệp quả ta đã gây ra.

Đông-Sơn lão nhân lùi lại. Ông ngửa mặt nhìn trời:

– Đại ca giác ngộ, bao nhiêu tội ác cùng ma nghiệp theo đó mà tiêu trừ. Thực phúc đức cho chúng sinh.

Đại-Bằng quay lại nói với đám giáo chúng:

– Chư vị huynh đệ! Mấy chục năm nay, ta bị ma kinh Hồng-thiết làm mất nhân tính, đi vào đường tà, giết người không gớm tay, lại còn cho là có công với thánh Mã-Mặc, Lệ-Anh. Ôi, mấy chục năm máu ngập sông, xương cao bằng núi, nói sao cho hết. Hôm nay, nhờ phép Phật ta thoát được ma chướng, mừng biết bao.

Y ngừng lại một lát, tiếp:

– Bây giờ ta quyết định vẫn giữ nguyên anh em trong bang, còn lại thay đổi tất cả. Anh em nghĩ xem, ta nên đổi tên bang sao cho hợp đạo lý.

Đỗ Lệ-Thanh bước ra nói:

– Sư huynh! Bên Đại-Việt, đã đổi Hồng-thiết giáo thành Lạc-long giáo. Vua Lạc-long lập ra nước Văn-lang. Bên Trung-nguyên vua Hoàng-đế lập ra Hoa-hạ. Vậy, chúng ta cũng nên theo gương, đổi tên bang thành Hoàng-đế.

Bang chúng vỗ tay reo hò vui mừng, nhảy nhót.

Đỗ Lệ-Thanh tiếp:

– Đa số anh em bản bang đều biết y lý. Bang ta nhất định lấy y đạo làm chính, võ đạo làm phụ. Chúng ta đeo bầu đi khắp nơi, cứu dân độ thế. Chỉ ít lâu sau, người người đều trọng ơn đức chúng ta.

Minh-Thiên góp ý:

– A-Di Đà-Phật! Phúc đức quá. Đỗ phu nhân đã được ở chung trong hang với hai vị Bồ-tát, nên hạnh nảy sinh, đưa ra ý kiến đẹp biết bao!

Mụ quay lại nói với Thiệu-Thái:

– Chủ nhân, tiểu tỳ lớn gan, dám xin chủ nhân trị Chu-sa độc chưởng cho tất cả anh em ở đây.

Thiệu-Thái vui vẻ:

– Chỉ nguyên việc quý bang đổi đường lối từ sát đạo sang y đạo, tại hạ xin tình nguyện trị cho tất cả quý anh em. Chúng ta đều là con cháu vua Phục-Hy, Thần-Nông. Sau tuy phân Hoa, Việt, nhưng đi cùng giòng máu.

Chàng vung tay lên, vù một chưởng, hướng Tây-phương sứ giả Bành Đức. Người y bật dậy, máu ở đầu ngón chân, ngón tay ri rỉ chảy ra. Bao nhiêu cái đau đớn biến mất. Y hướng Thiệu-Thái hành lễ:

– Đa tạ giáo chủ giải nạn.

Phải mất hơn giờ, Thiệu-Thái mới trị hết cho đám bang chúng có mặt.

Đặng Đại-Bằng đến trước Khai-Quốc vương, tay chỉ vào năm ngư nhân:

– Vương gia! Hồi chiều, năm vị huynh đệ đây, bắt sống Đông-phương sứ giả Lưu Đại của bản bang. Mong Vương-gia ân xá cho tứ đệ về.

Ngư nhân mũ đỏ cười lớn:

– Anh em tại hạ nào có bắt cóc Lưu huynh đâu? Chẳng qua mấy hôm nay, bọn tại hạ trêu chọc tứ sư huynh suốt ngày, suốt đêm, mà tứ sư huynh vẫn tha thứ. Vì vậy anh em tại hạ mời tứ huynh theo, để nhờ con lợn trị Chu-sa ngũ độc cho. Không ngờ bị Trung-sứ rượt quá, nên đến giờ cũng chưa trị cho tứ huynh được.

Y gọi lớn:

– Tứ huynh ơi! Tứ huynh à!

Đâu có, có tiếng cọp gầm, rồi con Sơn-Sơn chở Lưu Đại từ xa chạy đến. Lưu Đại nhảy xuống lưng hùm, nói với Đặng-đại-Bằng:

– Bang chủ. Năm vị thiếu hiệp đem đệ rời khỏi đây, đãi uống rượu, ăn thịt, rồi bảo rằng sẽ mời con lợn chữa bệnh cho thuộc hạ. Không biết sự thực ra sao, nhưng năm thiếu hiệp tử tế với đệ vô cùng.

Ngư nhân mũ đỏ ngửa mặt lên trời:

– Ông ỉn ơi!

Thiệu-Thái phì cười:

– Ơi!

Bang chúng Nhật-Hồ Trung-quốc không biết tiếng Việt, nên họ tưởng ngư nhân mũ đỏ cầu khẩn Thiệu-Thái trị bệnh chu Lưu Đại. Chỉ bọn Triệu Thành là biết ngư nhân đùa Thiệu-Thái.

Thiệu-Thái bước xéo một bước, vung tay vỗ lên đầu Lưu Đại, bộp một tiếng, chỗ huyệt Thái-dương Lưu Đại vỡ tung ra, máu chảy xối xả. Máu chảy đến đâu, Lưu Đại cảm thấy nhẹ nhàng đến đó. Sau khi máu ngừng chảy, y đến trước Thiệu-Thái hành lễ:

– Đa tạ Giáo-chủ giải ách.

Đặng Đại-Bằng nói với Thiệu-Thái:

– Đúng ra giờ này, bản bang đại hội ở đỉnh Tuyệt-phong. Bây giờ thay đổi hết. Tại hạ bạo gan, dám xin Giáo-chủ cho triệu tập anh em ở đây, để xin giải nghiệp cho.

Thiệu-Thái gật đầu.

Đặng-đại-Bằng cầm cây pháo thăng thiên đốt, tung lên cao. Chiếc pháo nổ đùng một tiếng rồi toả ra ngôi sao đỏ chói.

Để mặc cho Thiệu-Thái, Đỗ Lệ-Thanh với đám bang chúng Nhật-hồ. Khai-Quốc vương cùng Bình-Nam vương nắm tay nhau, lại ngồi trên một tảng đá lớn. Cạnh Bình-Nam vương có Minh-Thiên, Thiếu-Mai, Đông-Sơn lão nhân, đứng hầu có Dư Tĩnh, Vương Duy-Chính, Địch Thanh. Cạnh Khai-Quốc vương có Thanh-Mai, Thông-Mai. Đứng hầu có Mỹ-Linh, Bảo-Hoà, và năm ngư nhân.

Minh-Thiên lên tiếng trước:

– Trong thời gian lênh đênh trên mặt biển, hiểu mệnh trời, biết lòng người. Chủ nhân của bần tăng ước mong gặp vương gia, để bàn đại sự.

Khai-Quốc vương mỉm cười, nói với Mỹ-Linh:

– Con mời Ngô tiểu thư ra tham kiến Bình-Nam vương gia đi.

Ngô Cẩm-Thi từ bụi cỏ đứng dậy. Nàng e thẹn hành lễ với mọi người. Thanh-Mai cầm tay nàng:

– Ngô tiểu thư tuổi nhỏ, mà công lực thực kinh nhân. Hồi nãy tiểu thư ném cái châm cài đầu, làm văng kiếm cứu Dư an phủ sứ bằng chiêu số gì, mà muội muội không nhìn ra.

Ngô Cẩm-Thi e thẹn:

– Chút xảo thuật, không đáng làm trò cười cho các vị.

Mỹ-Linh giới thiệu Ngô Cẩm-Thi.

Dư Tĩnh quỳ gối trước Triệu Thành:

– Vương gia! Tiểu nhân xin Vương-gia ban cho đặc ân, với đặc ân đó, tiểu nhân sẽ có thêm uy tín theo hầu Vương-gia.

Triệu Thành đỡ Dư Tĩnh đậy:

– Dư an phủ sứ cứ nói.

– Trước đây, mang quân vây bắt song thân, cùng họ hàng Ngô tiểu thư là tiểu nhân. Thế mà vừa rồi, chính Ngô tiểu-thư ném châm cứu tiểu nhân. Lòng dạ tiểu thư thực như trời như biển. Hiện song thân tiểu thư bị giam ở Biện-kinh. Tiểu nhân xin Vương-gia ân xá cho hai vị trở về Quảng-Đông.

– Ngày mai Cô-gia sẽ cho chạy ngựa lưu tinh về kinh, đưa thân thuộc Ngô tiểu-thư về đây ngay. Mời tiểu-thư an tọa.

Ngô Cẩm-Thi chỉ vào ngôi nhà mình:

– Tệ xá không xa, mong đại giá nhị vị vương gia đến đó xơi chung trà.

Khai-Quốc vương, Bình-Nam vương nắm tay nhau theo Ngô Cẩm-Thi. Tùy tùng lục tục theo sau. Vào nhà, an ngôi chủ khách. Tỳ nữ pha trà.

Bình-Nam vương nhìn năm ngư nhân hỏi Khai-Quốc vương:

– Vương gia, những người của Vương-gia tại đây có tin được không? Vì chúng ta sắp bàn đại sự an nguy thiên hạ.

– Tất cả đều tin được.

Ngư nhân mũ đỏ hướng Địch Thanh:

– Địch trạng-nguyên! Hai chúng ta cùng lên mái nhà canh chừng. Đường có mạch, bức vách có tai. Quốc gia đại sự mà để người ngoài nghe được, thì không hay đâu.

Địch Thanh khâm phục ngư nhân mũ đỏ cảnh giác. Hai người ra khỏi nhà, vọt lên mái đi tuần một vòng, rồi ngồi trên nóc… nhìn trăng.

Trong nhà, nhị Vương đã uống hai chung trà.

Khai-Quốc vương mở đầu:

– Vương gia! Các vị! Đêm nay, chúng ta lĩnh nhiệm vụ kẻ sĩ, đem hết tâm huyết ra luận bàn, tìm lấy đường đi tốt đẹp, nhân đạo, hạnh phúc nhất cho hai đại tộc Việt, Hán.

—–> Hồi 82

Advertisements
This entry was posted in 06- ANH HÙNG BẮC CƯƠNG. Bookmark the permalink.